Nhà văn Nguyễn Văn Bổng: Trầm lặng và tinh tế

Tác giả Nguyễn Bá, trong một bài viết kể lại thời kỳ nhà văn Nguyễn Văn Bổng xuống miền Tây Nam Bộ (năm 1965) để tham gia công tác tập huấn trại văn cho Tiểu ban Văn nghệ khu, đã vẽ lên hình ảnh của một Nguyễn Văn Bổng luôn áp sát thực tế, sẵn sàng xông pha nơi nguy hiểm để lấy tài liệu viết sách...

Đến ngày 1/1/2011 này là vừa chẵn 90 năm ngày sinh nhà văn Nguyễn Văn Bổng, tác giả các tiểu thuyết "Con trâu", "Rừng U Minh", "Áo trắng", "Sài Gòn 67" - những tác phẩm từng ít nhiều gây tác động tới đời sống xã hội và đưa tác giả của nó đến với Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Nhân dịp này, một cuốn sách có tên gọi "Nguyễn Văn Bổng - nhà văn chiến sĩ" do bà Hồ Vân - vợ nhà văn và ông Hoàng Minh Nhân, Giám đốc Tủ sách Đất Quảng biên soạn cũng đã kịp ra mắt độc giả...

Nhân cách một con người qua những lá thư

Năm 1962, với bút danh Trần Hiếu Minh, nhà văn Nguyễn Văn Bổng vào hoạt động ở chiến trường miền Nam, giữ cương vị Trưởng tiểu ban Văn nghệ Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam kiêm Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng. Thời gian này, ít nhiều ông đều có thư gửi về cho gia đình và các bạn văn. Phải nói, đó là những lá thư rất đậm đà tình cảm, thể hiện ở tác giả một nghị lực vượt lên hoàn cảnh để hoàn thành nhiệm vụ. Qua những bức thư này, ta còn thấy được phần nào cuộc sống khắc nghiệt những năm tháng ấy, đồng thời thấy được ở Nguyễn Văn Bổng một con người sâu sắc, giàu lòng trắc ẩn, cùng đó là sự tinh tế trong xử thế.

Trong thư gửi nhà văn Nguyễn Tuân, ông viết: "Qua những ngày sau, thấy sức bắt đầu xuống. Sốt rét. Sốt là chuyện thường như hồi chúng ta kháng chiến. Và tôi đang sốt. Hiện nay cũng đang sốt mới có thì giờ ngồi viết cho anh đây, và cũng vì thế chữ tôi viết không được vững". Theo Nguyễn Văn Bổng cho biết thì khi viết lá thư đó, ông đang "ở một nơi khá nguy hiểm" - còn nơi đó là nơi nào, chắc vì lý do bí mật, ông không tiết lộ.

Cũng vẫn những lá thư viết gửi Nguyễn Tuân, một lần tác giả của "Rừng U Minh" đang say sưa kể chuyện, chợt nhớ tới nỗi gian lao của những người đưa thư, ông đành phải xin lỗi tác giả "Vang bóng một thời" mà rằng: "Thôi anh Tuân nhé, không lại khổ cho những người mang thư. Họ cũng ăn bắp lạt mang những thư này cho chúng ta. Vì vậy còn nửa trang giấy trắng, tôi xé giữ lại".

Nguyễn Văn Bổng có hạnh phúc là những người con của ông sau này đều phương trưởng, thành đạt. Thật thú vị khi đọc bức thư ông gửi vợ - khi ấy bà đang công tác tại Báo Nhân dân - nói về việc cần tạo điều kiện cho con có thời giờ vui chơi giải trí ra sao: "Theo ý anh, không nên gò bó các con, không nên sợ các con nghịch quá, chỉ sợ tuổi của các con như thế mà các con không biết nghịch, sớm có vẻ khuôn phép, sau này lớn lên sẽ không phát triển được cá tính, tài năng. Anh muốn các con được nghịch nhiều, chơi nhiều, biết nhiều... Thật ra, lúc nhỏ học hành chưa phải giỏi, chưa xuất sắc lắm cũng không sao đâu. Nếu chúng nó được phát triển về mọi mặt, lớn lên sẽ giỏi. Chỉ có điều muốn chúng được nghịch thì mình phải khổ hơn...".

Có thể, cái cung cách dạy con kiểu này sẽ có bậc phụ huynh tán thành, hoặc không tán thành, song thiết nghĩ, nó nói "trúng" tâm lý của các em nhỏ. Phải chăng, đó chính là kinh nghiệm rút ra từ chính quá trình phát triển của tác giả, và sau này, đã được thực tế chứng minh bằng sự thành đạt của các con ông.

Nhà văn Nguyễn Văn Bổng: Trầm lặng và tinh tế ảnh 1
Nhà văn Nguyễn Văn Bổng thời kỳ ở chiến trường miền Nam. Từ trái sang: Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, nhà văn Nguyễn Văn Bổng và nhà văn Lý Văn Sâm.

Phải hiểu chính xác đề tài mới được viết

Tác giả Nguyễn Bá, trong một bài viết kể lại thời kỳ nhà văn Nguyễn Văn Bổng xuống miền Tây Nam Bộ (năm 1965) để tham gia công tác tập huấn trại văn cho Tiểu ban Văn nghệ khu, đã vẽ lên hình ảnh của một Nguyễn Văn Bổng luôn áp sát thực tế, sẵn sàng xông pha nơi nguy hiểm để lấy tài liệu viết sách: "Ở Cà Mau, anh chờ xong thời khóa trại, nhờ cơ quan văn nghệ khu đưa vào sông Cái Tàu để anh đi vào sâu "lấy thực tế" viết tiểu thuyết Rừng U Minh... Anh làm quen với đồng chí Bí thư xã Lương Hòa là Năm Viết, ngủ ngoài vạt lá với ông già đồng chí Năm Viết. Đội nữ du kích xã Lương Hòa: Cô Tô Thị Huỳnh, Kiên Thị Nhẫn là nhân vật anh hùng trong bút ký văn học của anh. Nhà văn Nguyễn Văn Bổng nêu cho chúng tôi bài học rất lớn là phải "nghe thấy rõ mới viết". Phải đi thực tế để hiểu chính xác đề tài mới được viết. Anh xông vào khu ấp chiến lược, ấp Tân Sinh, dinh điền để ghi chép về nơi nguy hiểm".

Chính bởi tác phong làm việc sâu sát thực tế, không quản hiểm nguy mà có lần, Nguyễn Văn Bổng đã suýt gặp... nạn. Trong đợt Tết Mậu Thân, ông ở Sài Gòn tham gia việc đưa một số nhân sĩ, trí thức ra vùng giải phóng. Ông từng vận động được lão thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải ra với Cách mạng, song nửa đường, cụ Á Nam bị đau bệnh lại phải quay về. Với những hoạt động xông xáo như thế, đã có lần Nguyễn Văn Bổng bị địch bắt giam ở bót, song cơ sở bảo vệ của ta đã tìm cách giải cứu được nhà văn.

Kiệm lời và thấu nhân tình

Nhà văn Văn Chinh từng kể lại ấn tượng lần đầu anh được tiếp xúc với Nguyễn Văn Bổng: Đó là người rất kiệm lời. Sau này, Văn Chinh tìm đến nhà riêng của ông để nhờ ông một việc. Trong khi anh bức xúc bày tỏ "sự oan ức", nhà văn già  lắng nghe, thỉnh thoảng chỉ "ủa", "ủa" mấy tiếng, không hứa hẹn gì. Nhưng khi Văn Chinh mới quay gót bước ra ngoài cửa thôi, đã nghe thấy tiếng nhà văn gọi điện cho ai đó để nhắc việc anh cần giải quyết giúp...

Nhà văn Ngô Văn Phú thời làm Báo Văn nghệ (mà Nguyễn Văn Bổng làm Tổng Biên tập) từng "vướng" vào vụ "Sẹo đất" (tên một tác phẩm bị xem là "có vấn đề" của Ngô Văn Phú). Tình hình khá căng thẳng, tác giả tưởng bị kỷ luật "treo bút" tới nơi. Nhưng không. Ngô Văn Phú chỉ bị động viên chuyển từ Bí thư chi bộ xuống Phó bí thư, và "tạm" làm phóng viên mấy tháng. Rồi một ngày, Tổng biên tập Nguyễn Văn Bổng nói với ông:

- Cậu hãy xuống vùng quê nào viết cho báo một bài. Cố viết cho hay vào.

Ngô Văn Phú xuống Công ty Ong Thái Bình. Nửa tháng sau ông đem về bài "Mùa hoa bạch đàn". Nguyễn Văn Bổng đọc xong, gặp tác giả cười bảo: "Được đấy". Rồi ông cho in bài báo trên trang nhất. Vụ việc coi như xí xóa, Ngô Văn Phú lại trở về tổ văn xuôi làm việc bình thường, như không có chuyện gì xảy ra (điều này nhà văn Ngô Văn Phú đã kể lại một cách chi tiết trong một bài viết về Nguyễn Văn Bổng).

Nhà thơ Trần Ninh Hồ, người có nhiều năm tháng công tác tại Báo Văn nghệ cũng từng phát biểu là trong các đời tổng biên tập mà ông làm việc "dưới trướng", người để lại trong ông ấn tượng sâu đậm nhất là Nguyễn Văn Bổng. Trên một tờ báo, nhà thơ họ Trần còn kể: Có lần, liên quan đến việc làm báo, Nguyễn Văn Bổng có mắng ông một câu khá nặng. Ông bèn phản ứng lại, đại thể, cấp I học "Con trâu" (tên một tiểu thuyết của Nguyễn Văn Bổng, từng được giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp), cấp II học "Con trâu", cấp III rồi đại học cũng vẫn học "Con trâu", thế thì làm gì đầu óc chẳng ra... như thế. Thay vì sự phẫn nộ như ai đó tưởng, Nguyễn Văn Bổng hồn hậu hỏi lại: "Thật thế à?". Và ông cười xòa: "Ừ, nếu thế thì...".

Vượt lên "Con trâu" là "Áo trắng"

Nói tới tiểu thuyết của Nguyễn Văn Bổng, các nhà nghiên cứu thường nhắc nhiều tới hai cuốn "Con trâu" và "Rừng U Minh". Thật ra, mặc dù "Con trâu" là một trong những tiểu thuyết hiện đại Việt Nam được dịch in sớm nhất ở nước ngoài, song với Nguyễn Văn Bổng, cuốn sách tác động tới bạn bè quốc tế một cách sâu sắc nhất lại chính là tiểu thuyết "Áo trắng" ông sáng tác trong hai năm 1971-1972. Cuốn sách tái hiện một cách sinh động phong trào phản kháng của giới trí thức, đô thị miền Nam trước sự kìm kẹp của chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm.

Có lẽ vì bối cảnh của tiểu thuyết có nhiều nét tương hợp với thời kỳ những sinh viên, trí thức trẻ Hàn Quốc nổi dậy chống chính quyền độc tài Chun Đô Hoan ở Đại học Quang Du (phong trào phản kháng này đã bị nhà cầm quyền đàn áp dã man, làm hơn 200 sinh viên thiệt mạng). Ngay từ những năm 80 (của thế kỷ trước), tiểu thuyết "Áo trắng" đã được dịch in ở Hàn Quốc và tới nay, nó đã được tái bản tới 4 lần.

Năm 2006, GS - TS Bae Yang Soo, Trưởng khoa Tiếng Việt của Trường Đại học Ngôn ngữ Quốc tế Pusan đã cất công dịch lại cuốn tiểu thuyết này vì theo ông, trước đó các bản dịch "Áo trắng" đều được thực hiện qua bản dịch từ tiếng Anh và tiếng Nga, còn bản dịch của ông là thực hiện thẳng từ tiếng Việt. Theo Bae Yang Soo cho biết thì ở Hàn Quốc "cuốn sách được chuyền tay, săn lùng rất dữ", thậm chí, nó còn "dấy lên phong trào học tập cuốn sách như tinh thần đấu tranh yêu nước, ứng xử khôn khéo, bản lĩnh của người làm cách mạng..."

Trần Gia Bách

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.