Nhà văn Hoàng Quốc Hải và câu chuyện về triều đại Hồ Quý Ly

Đã hơn một năm Thành nhà Hồ được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản văn hóa vật thể của nhân loại (27/6/2011). Mới đây, tỉnh Thanh Hóa cũng đã long trọng tổ chức lễ đón nhận bằng Di sản văn hóa tại chính Thành nhà Hồ. Nhân dịp này chúng tôi đã có cuộc trao đổi thú vị xung quanh nhân vật lịch sử Hồ Quý Ly và Thành nhà Hồ cùng nhà văn Hoàng Quốc Hải.

- Là nhà văn duy nhất cho đến nay viết hai bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ về triều đại nhà Lý và nhà Trần, cũng là người am hiểu rất sâu sắc lịch sử, theo nhà văn, vì sao triều đại của Hồ Quý Ly lại nhanh chóng sụp đổ ?

+ Vâng, đã hơn một năm Thành nhà Hồ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa vật thể của nhân loại. Đó là niềm vinh hạnh cho nền văn hóa nước nhà. Ngôi thành đá kiên cố, hơn 600 năm xem ra vẫn còn chắc vững lắm. Thế mà cái thời đại đẻ ra ngôi thành đó, tức nhà Hồ, lại sụp đổ nhanh chóng đến bất ngờ.

Xét Hồ Quý Ly lấy ngôi nước từ nhà Trần trên cơ sở điêu trá và tàn bạo. Vốn liếng chính trị ông gây dựng trên cái nền của lòng dân chán ghét, nội bộ chia lìa. Tất cả những yếu tố khiến cho sức mạnh quốc gia dần đi vào thế bại liệt, đều do một tay Hồ Quý Ly bày xếp cả. Và cái thế nước lụi tàn ấy, làm sao mà che bịt được những đôi mắt gian giảo của bầy ác thú phương Bắc.

Chính cha con Hồ Quý Ly chứ không phải ai khác, đã tiến hành những cuộc tàn sát khủng khiếp đối với những người chống đối, hoặc chỉ có ý nghĩ không tùng phục mà có kẻ tố giác, cũng bị rơi đầu. Quân lính của ông luôn luôn bận mải hành quân đàn áp nhân dân nổi dậy từ khắp mọi nơi. Cả nước tràn ngập không khí tang tóc và tù ngục. Lòng dân oán hận triều đình đến cùng cực, chia rẽ đến tột cùng, đói khổ đến tột cùng. Để cho đất nước rơi vào thảm cảnh đó, cũng có nghĩa tự mình tạo điều kiện tốt nhất cho giặc ngoài vào xâm lấn, và cũng có khác chi tự mình đem nước dâng cho giặc. Nhà Hồ sụp đổ nhanh chóng như vậy, chỉ có một nguyên nhân duy nhất có thể cắt nghĩa là bởi khinh dân, chống lại nguyện vọng chân chính của toàn dân, và vì thế cả dân tộc không hợp tác với nó, khiến nó bị diệt vong.

Nhớ câu nói nổi tiếng của Hồ Nguyên Trừng khi Hồ Quý Ly hỏi: "Ta ước sao có được một trăm vạn quân để chống lại người Minh". Trừng đáp: "Thưa cha, quân không sợ thiếu, chỉ sợ lòng dân không theo".

Vậy là bài học muôn thuở, vẫn là BÀI HỌC LÒNG DÂN.

- Lịch sử cho đến hôm nay vẫn ca ngợi những cải cách táo bạo của Hồ Quý Ly, và giá như không có giặc ngoại xâm thì có lẽ...! Là nhà văn viết về lịch sử, ông đánh giá thế nào về vấn đề này?

+ Đây là câu hỏi vừa thú vị vừa hóc búa. Nó đủ sức bao chứa một luận văn tiến sĩ có tầm cỡ.

Trước hết ta hãy khảo sát những cải cách của Hồ Quý Ly và thử bình giá, xem những cải cách ấy nếu không bị chiến tranh cản trở thì nó sẽ đóng góp được gì cho sự phát triển đất nước. Hồ Quý Ly soạn một cuốn sách có tên "Minh Đạo" (Con đường sáng), nay đã thất lạc. Trong đó ông đề cập: Chu Công là tiên thánh. Khổng Tử là tiên sư. Ngôi vị thờ trong Văn Miếu thì đặt tượng Chu Công ở chính giữa, mặt ngoảnh về phương Nam, Khổng Tử đặt ở bên, mặt ngoảnh về phương Tây. Ông cho cuốn "Luận Ngữ" của Khổng Tử có bốn chỗ ngờ...

Các vấn đề Hồ Quý Ly đặt ra trong sách "Minh Đạo" có nhẽ nổi hơn cả để đương thời bàn tán, chủ yếu là hai vấn đề trên.

Xét cho cùng thì đây là quan điểm của một người đọc sách hoặc phê bình sách, vấn đề đặt ra rất vụn vặt. Nó không có đóng góp gì cho học thuật nước nhà trong giai đoạn đó. Việc làm sách này cũng chỉ là một thủ đoạn, nhằm tăng thêm vốn liếng chính trị cho nhà học phiệt Hồ Quý Ly mà thôi. Bằng chứng là Quốc tử trợ giáo Đoàn Xuân Lôi dâng thư nói: "Bàn thế là không phải" bèn bị Hồ Quý Ly cho lưu đày đi cận châu (tức châu gần). Còn trạng nguyên Đào Sư Tích vì có xem thư của Đào Xuân Lôi cũng bị biếm chức.

Một cải cách nữa mà ba bốn thập niên gần đây các học giả, các sử gia hiện đại cho là cải cách táo bạo, ấy là việc bỏ tiền đồng, tiêu tiền giấy.

Tháng 4 năm Bính Tý (1396), Hồ Quý Ly cho phát hành tiền giấy "Thông bảo hội sao". In xong, họ lệnh cho mọi người đem tiền đến đổi. Cấm hẳn việc tiêu tiền đồng.

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, trên tờ tập san Văn - Sử - Địa, tôi thấy nhiều học giả ca ngợi việc tiêu tiền giấy của Hồ Quý Ly là một bước tiến vượt bậc, đi trước thời đại, hơn nhiều nước châu Á và một số nước châu Âu.

Ngày ấy tôi tin điều mà các học giả ca ngợi Hồ Quý Ly, nhưng khi viết tiểu thuyết lịch sử đến giai đoạn suy thoái của nhà Trần, và khi Hồ Quý Ly đang ngấp nghé ngôi báu của nhà Trần, thì thấy hoàn cảnh xuất hiện tiền giấy vào năm 1396 không ăn nhập gì với nhận định của các học giả, các sử gia. Vì rằng đó là giai đoạn kinh tế nhà Trần suy thoái đến tột độ. Nền nông nghiệp lạc hậu, ruộng đất tập trung trong tay giới quý tộc. Một số không nhỏ nông dân bị bắt làm điền nô, số còn lại không có ruộng đất hoặc có rất ít lại bị tô thuế cao, bị bắt đi lính hoặc đi phu phen tạp dịch, nên đói là vấn nạn thường trực đối với đa số dân nghèo. Vì vậy giặc cướp nổi lên tứ tung, nông dân tụ tập khởi nghĩa, lấy của người giàu chia cho người nghèo.

Một xã hội nghèo xác nghèo xơ, lại luôn luôn bất ổn, không hề có một nhân tố nào cho kinh tế hàng hóa phát triển. Mà theo như Karl Mark, sản xuất hàng hóa phát triển là tiền đề cho tiền giấy ra đời.

Rõ ràng cái xã hội mà Hồ Quý Ly cai trị không có một mảy may nào, một mầm mống nào cho sự phát triển kinh tế hàng hóa. Thế thì dựa trên cơ sở nào Hồ Quý Ly phát hành tiền giấy, cấm ngặt việc tiêu và trao đổi hoặc tàng trữ tiền đồng.

Khảo sát lịch sử, tình hình trong nước như phần trên đã nói, còn phần ngoài nước, đặc biệt là đối với nhà Minh bên Trung Hoa. Tới lúc này, nhà Minh đang nhìn vào nội tình nước ta như cú dòm nhà bệnh, và họ đang ấp ủ một âm mưu thôn tính. Vì vậy họ cấm họp các chợ đường biên, cũng tức là cấm dân ta trao đổi hàng hóa (ngày nay gọi là cấm vận). Đặc biệt nghiêm cấm người nước ta qua lại đất Minh mua bán hàng hóa, nghiêm cấm và trị tội nặng đối với việc đưa các hàng đồng, sắt sang An Nam.

Trước sự uy hiếp của nhà Minh, buộc Hồ Quý Ly phải gấp rút tăng cường binh bị, chế tác vũ khí. Cha con Hồ Quý Ly nảy sinh sáng kiến phát hành tiền giấy, thu về tiền đồng để làm nguyên liệu chế tác binh khí.

Phải xem đây là một sáng kiến xuất phát từ nhu cầu phục vụ chiến tranh chứ không phải nhu cầu phát triển kinh tế hàng hóa.

Sự ca ngợi cải cách táo bạo của Hồ Quý Ly bởi các học giả đương đại, mắc vào lầm lẫn là ở chỗ đó.

Và nếu như không có giặc ngoại xâm thì có lẽ...Hồ Quý Ly vẫn tiến thẳng vào con đường sụp đổ, tuy nhiên nó sẽ diễn ra với tốc độ chậm hơn, bởi trong tay Hồ Quý Ly còn sở hữu một bộ máy đàn áp cực lớn.

- Xây dựng một thành đá trong rừng sâu tỉnh Thanh Hóa làm Kinh đô nhằm chống chọi với giặc ngoại xâm phương Bắc phải chăng đã minh chứng một tầm nhìn hạn hẹp của một người làm vua, đồng thời là bước thụt lùi về nghệ thuật quân sự chống giặc của dân tộc ta?

+ Thành nhà Hồ trước hết đó là một thành tựu vĩ đại của nhân dân lao động cả nước ta, nhưng công đầu thuộc về người dân Thanh Hóa. Phải nói đây là một kiệt tác nghệ thuật trong xây dựng công trình bằng đá, và với một kỹ năng tuyệt vời. Những phiến đá nặng từ 4 tấn đến trên 20 tấn mà không hề có một phương tiện cơ giới nào trợ giúp. Và cả ngôi thành được hoàn thành trong một thời gian kỷ lục: 3 năm. Nhưng đây cũng là một tội ác ghê rợn mà Hồ Quý Ly để lại cho đương thời và hậu thế.

Nay về Vĩnh Lộc, chúng ta còn nghe được vô vàn các câu chuyện đau lòng trong quá trình xây thành đá. Và nhân dân căm phẫn Hồ Quý Ly tới mức khắp tỉnh Thanh Hóa không hề có một am, miếu nào thờ ông. Ngay chân thành, dân dựng ngôi đền thờ người đốc công bị Hồ Quý Ly chém đầu với tội danh: chậm tiến độ. Ngay cả nơi Hồ Quý Ly giết vị tướng trẻ Trần Khát Chân ở núi Đốn, dân cũng lập tới hai ngôi đền để thờ ông. Cả tỉnh Thanh Hóa có hơn 70 đền thờ Trần Khát Chân. Chỉ riêng điều đó đủ biết nhân dân đánh giá Hồ Quý Ly có công hay có tội.

Còn ngôi thành đá đó với tầm nhìn của một nhà quân sự như nhà báo hỏi, tôi phải khẳng định một lần nữa: Thành đá nhà Hồ là một kỳ công kiến trúc. Nhưng về mặt chiến thuật công hoặc thủ thì ta phải nhìn vào thực tế rằng cha con Hồ Quý Ly đều bỏ thành chạy, và bị giặc Minh bắt sống ở cửa biển Kỳ La, ở núi Thiên Cầm, Hà Tĩnh.

Và chưa hề có một phát súng nào hạ sát, dù chỉ một tên giặc Minh từ phía trong thành bắn ra. Xem thế đủ biết nghệ thuật chiến tranh của Hồ Quý Ly so với lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta nó lạc hậu tới mức nào, và để di hận tới muôn sau.

Tưởng cũng cần biết thêm trong cuộc đời làm tướng cầm quân đánh nhau với người Chiêm, Hồ Quý Ly chưa hề có một chiến thắng lót tay. Điều kỳ lạ, cứ sau mỗi lần thua trận, Hồ Quý Ly đều đổ tội cho người khác rất thành công, còn ông ta lại được vinh thăng.

- Theo nhà văn, điều quan trọng nhất trong bảo tồn Thành nhà Hồ là gì?

+ Điều quan trọng nhất trong việc bảo tồn thành nhà Hồ là giữ nguyên trạng và không để nhân dân vi phạm. Đặc biệt là không xây mới, không cấy bất cứ một công trình nào vào di tích, vừa tốn kém, vừa phá vỡ cảnh quan và gây phản thẩm mỹ nữa.

- Xin cảm ơn nhà văn Hoàng Quốc Hải.

Hà Nội, 12/7/2012

Cao Minh (thực hiện)

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.