Chu Văn Mười ít khi sai hẹn. Sách ra hôm trước, hôm sau anh gọi tôi ra quán bia làm một chầu vui vẻ rồi ký tặng. Cuốn truyện có tên "Một thời cổ tích". Cầm cuốn sách, tôi mừng vì mặc dù từng giữ cương vị Vụ trưởng Vụ Văn hóa, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, song anh vẫn luôn coi viết văn mới là nghiệp chính của mình.
Sinh năm 1943 tại một ngôi làng tràn ngập nắng gió ven cửa sông Bạch Đằng, thuộc huyện Thủy Nguyên, năm 21 tuổi, Chu Văn Mười nhập ngũ. Anh vào Hải quân, ra tận vùng Vạn Hoa, Cái Bầu huấn luyện rồi canh giữ biển. Học hết cấp ba ngày đó được xem là tầng lớp trí thức, lại may mắn làm quân của thủ trưởng Phạm Điệng (tức nhà văn Dũng Hà, Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội sau này) nên anh có phần được "ưu ái": Đã mấy lần đơn vị làm thủ tục cho Chu Văn Mười đi đào tạo cán bộ nguồn. Nhưng cứ về xã thẩm tra lại đụng phải vài ba cái thủ tục dích dắc, rồi trì hoãn không đi được.
Thôi thì đành cho đi học lớp kỹ thuật điện tử rồi điều động về trạm rađa, để Chu Văn Mười "phát huy cái trình độ toán, lý, hóa cấp ba". Trạm rađa ấy lại ở tận ngoài đảo Cát Bà mêng mang nắng gió, thả sức cho người lính thư sinh mơ mộng. Cát Bà ngày ấy dân cư còn thưa thớt, vài ba vạn chài, một phố nhỏ với dăm bảy nếp nhà xây cũ kỹ chạy dài bên cảng cá. Trạm rađa của Chu Văn Mười thì ở tít trên đỉnh một quả đồi cao. Ngày ngày những người lính thay phiên nhau xuống chân đồi cõng nước, lĩnh lương thực, thực phẩm, chỉ khi ấy mới được tiếp xúc với dân. Có năm một, hai lần được vào đất liền gọi là "về tranh thủ".
Ngày ấy chưa có phà, thường đi nhờ thuyền cá, thuyền lâm, hải sản của đảo, có khi ngồi chung khoang với trâu bò, lợn gà. Lại có năm không được về lần nào. Suốt 8 năm sống với biển đảo, tận tụy với công việc, Chu Văn Mười cũng chỉ lên được cái chức tiểu đội phó, quân hàm cao nhất là... thượng sĩ, anh em quen gọi là thượng sĩ i-nốc, không sao thăng lên sĩ quan được. Chẳng nhẽ mọi cánh cửa của tương lai đều đã khép lại với mình?
Rất nhiều lần Chu Văn Mười tự hỏi như thế. Nhưng rồi trong cái lúc tưởng như bế tắc nhất anh lại tự tìm ra một lối đi cho mình: Viết văn! Mỗi lần được về đất liền anh lại mua một balô sách báo mang ra đảo. Anh đọc và cho đồng đội mượn đọc. Hòn đảo bớt hoang lạnh nhờ những cuốn sách văn chương ấy. Anh thử sức bằng hai truyện ngắn gửi về tạp chí Văn nghệ Quân đội, không ngờ đều được đăng. Viết tiếp hai truyện ngắn nữa gửi sang báo Văn nghệ, lại được đăng. Rồi báo Văn nghệ thông báo tổ chức cuộc thi truyện ngắn 1970 - 1971, Chu Văn Mười viết truyện "Bèo giống" gửi về tham dự. Truyện được in rất trang trọng. Giải thưởng thì còn phải chờ, nhưng sự kiện này rất xứng đáng để cả trạm rađa tổ chức ăn khao. Anh em xuống bãi sú vẹt dưới chân đồi mò mẫm một lúc là có đủ cua rèm, tôm hùm, ngao vạng, sá sùng... cho một bữa liên hoan thịnh soạn.
Nhưng cái thành quả văn chương khiêm nhường ấy chưa đủ độ để nhà văn trẻ nhấm nháp dư vị của nó thì cái vị mặn chát cuộc đời đã lại ập đến. Xung quanh cổ Chu Văn Mười tự dưng nổi lên rất nhiều cục hạch khiến anh rất đau đớn. Nhập bệnh viện Quân chủng, bác sĩ khám xác định anh bị lao hạch, không có thuốc chữa, gửi trả lại trạm rađa. Bệnh khó chữa, lại có khả năng lây lan sang người khác, những người đồng đội dù rất thân với Chu Văn Mười cũng lặng lẽ tìm cách đối phó, đề phòng, "cách ly" với anh. Cuối cùng, có lẽ thấy bất tiện, thủ trưởng đơn vị gợi ý cho anh xuất ngũ về quê. "Nhưng nếu trong một thời gian ngắn mà tìm được công việc ở một cơ quan nào đó thì đơn vị sẽ chiếu cố giải quyết cho chuyển ngành" - Ông thủ trưởng đơn vị hạ cố "bật mí" như thế.
Chu Văn Mười khoác balô tìm đến Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng. Quả là niềm vui đến vượt quá sức tưởng tượng của nhà văn trẻ. Thủ tục đưa Chu Văn Mười về Hội được xúc tiến rất nhanh. Về đây một thời gian, anh đã chữa lành bệnh (thực ra là bệnh viêm thần kinh chứ không phải lao hạch), nhưng chưa kịp ấm chỗ, quen việc thì cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai ập đến. Thành phố Hải Phòng bị đánh phá rất dữ dội, hải cảng và các cửa sông đều bị thủy lôi phong tỏa. Lãnh đạo Hội gọi Chu Văn Mười lên giao nhiệm vụ: "Cậu còn trẻ, lại đã từng có những năm tháng làm lính Hải quân, lần này chúng tôi phân công cậu thâm nhập sâu hơn, để viết một cái gì cho ra tấm ra miếng...". Chu Văn Mười hưởng ứng ngay: "Được về đây làm việc cùng các anh là một may mắn lớn đối với em rồi. Bây giờ các anh phân công em đi đâu em cũng đi". Thế là Chu Văn Mười khoác balô xuống một đơn vị rà phá thủy lôi, Cục Đường biển. Nay ở cửa Nam Triệu. Mai ở cửa Bạch Đằng. Có những phen đối mặt với tử thần.
Chiến tranh phá hoại kết thúc, Chu Văn Mười trở về cơ quan ngồi viết tiểu thuyết "Biển xanh" bằng vốn sống của những ngày tháng tham gia rà phá thủy lôi. Năm 1978, "Biển xanh" được xuất bản. Nó mang vinh dự là cuốn tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên "mở hàng" cho Nhà xuất bản Tác phẩm mới khi ấy vừa thành lập.
Trong thời đoạn chờ "Biển xanh" ra mắt, lại có phong trào hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn. Huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An, huyện Nam Ninh - Hà Nam Ninh và một số huyện khác được xây dựng là những huyện điểm. Chu Văn Mười được phân công về huyện Thủy Nguyên "ba cùng" với bà con để viết về phong trào này. Nhưng tại đây nhà văn trẻ nhận ra cái cơ sự công nghiệp hóa - hiện đại hóa này có gì đó phiêu lưu, nặng tính hình thức, không ổn. Nhưng nếu không viết được gì thì cũng khó nghĩ với cơ quan. Chu Văn Mười chọn giải pháp cũng chọn đề tài nông nghiệp - nông thôn nhưng viết về thân phận một người phụ nữ ở một ngôi làng ven biển. Cuối cùng thì cuốn tiểu thuyết "Người vợ trẻ" của anh cũng được hoàn thành.
Sau khi hai cuốn "Biển xanh" và "Người vợ trẻ" được xuất bản cùng với truyện ngắn "Bèo giống" nhận giải thưởng cuộc thi của báo Văn nghệ, Chu Văn Mười được phân công giữ cương vị Phó Chủ tịch; và năm 1989, giữ cương vị Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng. Cũng thời kỳ ấy, Chu Văn Mười cùng 5 nhà văn, nhà thơ nữa trở thành đại biểu Quốc hội khóa IX.
Mỗi lần đi họp các hội nghị, hội thảo của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, tôi (bấy giờ đang giữ cương vị Phó chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nam Ninh) và nhà văn Chu Văn Mười lại có dịp gặp nhau. Dù đã trở thành "nghị viên" của cơ quan quyền lực cao nhất nước, nhưng cảm nhận của tôi là Chu Văn Mười không tỏ vẻ "ta đây". Với tôi, anh vẫn lan tỏa sự ấm áp chân tình của những người đồng đội cũ. Tiếp xúc với anh, tôi luôn có cảm giác yên tâm. Tôi có thể nói tất cả mọi điều với anh, kể cả những điều mà ngày ấy còn bị coi là húy kị. Anh lắng nghe, tiện thì bộc lộ chính kiến, điều gì bất tiện thì anh im lặng. Phẩm chất này vô cùng cần thiết đối với một người đại biểu nhân dân. Chỉ từ khi Chu Văn Mười được "cất nhắc" lên Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (1997) giữ cương vị Vụ phó, rồi Vụ trưởng Vụ Văn hóa thì chúng tôi mới ít gặp nhau.
Chu Văn Mười quá bận rộn, hết đi nước ngoài rồi lại vào Nam ra Bắc họp hành liên miên. Tôi thì quá nhiều sóng gió ập xuống đầu, mà toàn những chuyện không đâu, khiến tôi nhiều khi rã rời mệt mỏi, ít có thời gian dành cho bạn bè. Thường mỗi khi Đại hội Nhà văn, tôi và anh mới có dịp gặp nhau. Những ngày tháng sau này tôi rời Nam Định lên Hà Nội sinh sống, anh cũng đã nghỉ hưu, chúng tôi tìm đến với nhau mà không phải mang một mặc cảm gì.
Cuốn "Một thời cổ tích", Nhà xuất bản Thanh niên vừa in tháng 6 năm 2010, tôi đọc liền một mạch. Đọc xong tôi rất vui. Chu Văn Mười vẫn giữ được giọng văn trữ tình đằm thắm. Cuốn sách viết về cái làng quê của anh thời anh còn thơ bé. Vốn sống nông thôn vùng ven sông Bạch Đằng cứ đầy ăm ắp trong từng trang sách. Nhiều giá trị mà người Việt Nam gây dựng, tích lũy qua nhiều đời, rất đẹp, rất nhân bản nhưng cho đến nay đã bị phôi pha nhiều, đã trở thành "một thời cổ tích".
Đọc xong 140 trang truyện tôi còn muốn đọc nữa. Tôi cảm giác Chu Văn Mười có vốn sống khá bề bộn, phong phú, không thiếu cả những nghịch cảnh, khắc nghiệt, dữ dằn, nhưng anh đưa vào tác phẩm còn có vẻ dè dặt, tỉnh táo quá. Nhưng sực nghĩ đến gia cảnh nhà văn: Người vợ thảo hiền của anh ốm liệt giường đã ba năm nay. Anh vừa làm ôsin chăm sóc vợ vừa viết cuốn truyện này nên tôi không nỡ đòi hỏi gì thêm ở anh nữa. Chỉ mong sao chị nhà mau khỏe, cái đận họa vô đơn chí đang hiện hữu mau qua, để anh có điều kiện thả hết bút lực làm ra những tác phẩm có giá trị cao hơn phục vụ bạn đọc