Nhà thơ Võ Văn Trực trong "buổi chiều của đời người"

Nhà thơ Võ Văn Trực là người quen sống lặng lẽ. Ngay thời trẻ, giữa đám bạn bè văn chương vốn lắm lời, ông thường chỉ ngồi yên lặng. Nhưng ông là người không xa cách với mọi người. Ông vốn là người sống nghiêm túc, nhưng lại là người chịu được mọi tính cách của bạn.

Nói về buổi chiều của đời người, dường như ai cũng ngần ngại, vì nó thường nặng nề và phiền toái. Vậy mà không ai tránh khỏi.

Được tin nhà thơ Võ Văn Trực vào Trung tâm chăm sóc người cao tuổi, tôi vội đến thăm. Mấy năm nay, ông đau ốm liên miên. Lúc điều trị ở nhà, lúc vào bệnh viện, lúc vào Trung tâm dưỡng bệnh. Ở nước ta, dịch vụ chăm sóc người cao tuổi đã từng bước chuyên môn hóa. Nhiều trung tâm chăm sóc người cao tuổi ra đời, đáp ứng và giải quyết được một thực trạng thiết yếu của xã hội.

Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Orihome, nơi nhà thơ Võ Văn Trực nằm trong một không gian yên tĩnh. Thái độ phục vụ của các điều dưỡng viên nhiệt tình, chu đáo. Ấy vậy, đến thăm ông, tôi không khỏi trạng thái bùi ngùi. Con người khi bước vào buổi chiều của đời mình, quả là ái ngại. Người khỏe mạnh thì ít. Đa phần phải đương đầu với bệnh tật, ốm đau.

Năm ngoái, ông phải vào nằm điều trị ở Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô. Bệnh tình của ông khi ấy đã nặng. Nằm bất động trên giường bệnh, ông không nói được. Đến thăm, chả dám hỏi han, chuyện trò nhiều, sợ ông mệt và chả biết ông có nghe được không. Nhưng trên thần sắc khuôn mặt ông vẫn ánh lên niềm hy vọng sớm được ra viện, vẫn khao khát sống, vẫn khao khát làm việc. Bây giờ, ông lại yếu hơn. Mọi cái như bất lực. Nhìn tấm thân gày khô, thương ông biết bao nhiêu.

Tôi nhớ mới ngày nào cùng ông đi ngang dọc các ngả đường. Đấy là thời ông khỏe mạnh. Với vẻ ngoài lầm lì ít nói, tưởng như người khó tính, nhưng trong con người ông lại luôn cởi mở, chân thành với bạn bè. Ngày ấy, hai anh em còn đáp tàu hỏa về Diễn Châu, rồi lấy xe đạp kẽo kẹt đạp chở nhau về làng Hậu Luật. Quê ông vốn là làng trù phú của xứ Nghệ.

Nhưng trải qua bao cuộc binh biến, thôn xóm mất hết cả đình chùa. Ông từng đau xót kể cho tôi nghe cái thuở ấu trĩ và quá tả, người ta phá sạch đình chùa để xây sân kho hợp tác xã. Bao hoành phi câu đối chạm khắc bao điều tự hào về công lao cha ông tổ tiên, bao lời khuyên dạy con cháu cố gắng tu thân tích đức làm con người lương thiện, bao tượng phật sơn son thếp vàng tích tụ bao tâm linh của người dân xóm làng họ đem chặt, phá đi tất cả.

Làng có hơn chục cây đa, cây đề cổ thụ vài trăm tuổi rồi họ cũng đem đốn hạ, lấy gỗ pha làm cổng chuồng trâu, nhà kho. Những cây cổ thụ từng tỏa bóng mát cho bao lớp trẻ làng, cho bao lão nông về nghỉ giữa buổi cày đồng, nay không còn nữa.

Nhà thơ Võ Văn Trực.
Nhà thơ Võ Văn Trực.

Rồi họ trồng lên những cây bạch đàn gày guộc thay thế. Cổng làng xây gạch cuốn rất cầu kỳ, nơi hẹn hò của bao lớp người ra đi cứu nước, họ dỡ bỏ, để mở đường cho những chiếc xe cải tiến chất phân tro chạy nhồng nhồng. Đau đớn hơn, họ còn dồn hết các nấm mồ tổ tiên, ông bà, cha mẹ lên một khu nghĩa trang công cộng. Như bao người xa làng, khi trở về, không còn nhận biết mộ ông bà, bố mẹ của mình ở đâu giữa bãi nghĩa trang tập thể hoang toàng, ông đành gằn lòng thắp bó hương vái bốn phương tám hướng...

Những câu chuyện quê thấm đẫm vui buồn, ông đã dồn vào trang viết trong tập “Chuyện làng ngày ấy”, in 1993, đã gây chấn động bạn đọc.

Lại nhớ ngày nào, mấy anh em đạp xe về quê tôi bên Bắc Ninh. Làng tôi ngày đó còn giữ nguyên nét đẹp nền nếp của một làng cổ trù phú vùng Kinh Bắc. Đặc biệt, làng có đặc sản khế ngọt, mà người dân quanh vùng vẫn quen gọi “khế ngọt Sặt Đồng”.

Ngày ấy, làng chưa trải qua cơn lốc đô thị hóa. Con đường làng lát gạch nghiêng đỏ au, những mái nhà ngói thâm rêu, những vườn khế xanh rờn tán lá và những chùm khế chín vàng mọng năm múi. Bữa ấy, ba nhà thơ Võ Văn Trực, Chử Văn Long, Vũ Xuân Hoát và tôi đi loanh quanh thăm làng, rồi về cặm cụi mỗi người một góc nhà, thi nhau viết thơ về khế ngọt. Đấy là thời ông và chúng tôi còn trẻ, dễ xốc nổi, đam mê.

Về sau này, cơn lốc đô thị hóa ồ ạt cuốn về làng tôi, những ngôi nhà gỗ cổ mái ngói nâu rêu bị dỡ đi, những mảnh vườn khế ngọt bị đốn hạ. Những ngôi nhà bê tông mái bằng chóp nhọn đua nhau mọc lên. Con đường làng lát gạch nghiêng đỏ au sau mỗi trận mưa, nay là con đường bê tông bỏng rát chân trưa hè. Thi thoảng hỏi thăm về làng quê tôi, ông lại tiếc những mảnh vườn trồng khế ngọt quê tôi biến mất. Nhưng biết làm sao được, trước cơn lốc đô thị  hóa của thời buổi tấc đất tấc vàng!

Ông từng là tấm gương cho tôi về sự quyết chí học tập. Thời ấy, gia đình ông còn ở cái lán cơi nới phía sân sau của khu Nhà xuất bản Thanh Niên. Điều kiện sống khó khăn, nhà hẹp dăm mét vuông, ông biết lợi dụng cánh cửa bằng mấy tấm ván ghép tạm, biến thành cái bảng học ngoại ngữ. Hằng ngày, ông viết dăm chữ tiếng Pháp, dăm chữ tiếng Trung Quốc lên tấm ván cửa, đặt ra chỉ tiêu học thuộc, học hiểu nghĩa và viết cho đúng.

Có lần, nhà thơ Đào Cảng từ Hải Phòng lên, rủ tôi đến thăm ông, đã chứng kiến cảnh ông lom khom viết viết xóa xóa để học ngoại ngữ trên tấm ván ghép tạm cánh cửa ấy. Qua dăm năm, với lòng quyết tâm học, ông đã có vốn liếng tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc đáng kể, để dịch và phục vụ cho nghiệp sáng tác của mình.

Có lần nhắc lại, ông chẹp môi, nói rằng thương Đào Cảng mất sớm quá. Nhà thơ Đào Cảng, người Hải Phòng, với câu thơ bảng lảng về bông hoa lay-ơn trên sườn núi Sa Pa, như “nụ cười ai bỏ quên” ra đi đã ba mốt năm rồi. Ngày gia đình Đào Cảng tổ chức bốc mộ thay áo cho anh, nhà thơ Võ Văn Trực và tôi đáp tàu đêm xuống Hải Phòng cho kịp.

Tờ mờ sáng, nghĩa trang còn ngập ngụa sương mù, nhìn  người bạn chỉ còn là dúm xương xếp gọn trong tiểu sành, lòng chúng tôi buồn không nói được. Con người, sự sống và cái chết chả có gì xa lạ và quan trọng quá đâu. Xem ra chỉ có chút tình còn lại. Ấy nên khi sống thì cố gắng sống tử tế, cố làm điều hữu ích. Sao đến thăm ông, tôi lại nhớ ngày ông cặm cụi đánh vồng, bó buộc những gốc đa mà ông gây trồng trên sân thượng, để đem về quê, trồng bên con đường quanh làng. Không biết những cây đa dạo ấy, nay đã tỏa bóng mát cho lũ trẻ chăn trâu, cho lão nông nghỉ ngơi giữa độ buổi cày đồng? Có phải ông muốn gây trồng, để bù lại những cây cổ thụ của làng bị đốn hạ thuở nào?!

Nhà thơ Võ Văn Trực là người quen sống lặng lẽ. Ngay thời trẻ, giữa đám bạn bè văn chương vốn lắm lời, ông thường chỉ ngồi yên lặng. Nhưng ông là người không xa cách với mọi người. Ông vốn là người sống nghiêm túc, nhưng lại là người chịu được mọi tính cách của bạn.

Sinh thời, nhà thơ Tạ Vũ là người quen sống ồn ào, đôi khi còn thái quá về tật uống rượu, ấy thế mà nhà thơ Võ Văn Trực chịu được tất. Nhà thơ Tạ Vũ từng tuyên bố với bạn bè, nhà thơ Võ Văn Trực là người bạn thân nhất của ông. Cho dù, nhìn về diện mạo bên ngoài và tính cách của hai người như hoàn toàn  đối lập. Ông là người dám  đứng ra bảo vệ bạn.

Tập thơ “Những cánh chim trời" của Tạ Vũ trước khi xuất bản (1974), nhiều ý kiến về tính cách sinh hoạt của tác giả phản ánh tới Ban giám đốc, nhà thơ Võ Văn Trực, khi ấy là cán bộ biên tập liền đứng ra trình bày và bảo lãnh về tư cách tác giả để Ban giám đốc Nhà xuất bản ký lệnh in. Tập thơ in ra, đã khẳng định vị thế thi ca của Tạ Vũ. Sau đó, tập thơ được giải thưởng văn học của Tổng Liên đoàn Lao động và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức.

Ông là người lao động sáng tạo văn học miệt mài, bền bỉ. Sự nghiệp văn học của ông để lại cho đời là khối lượng tác phẩm khá đồ sộ. Ngoài hơn chục tập thơ và trường ca, ông còn có hơn chục tập bút ký, tiểu thuyết và hơn chục tập sách sưu tầm, khảo cứu văn hóa dân gian.

Thời kỳ đổi mới, bút ký “Tiếng kêu cứu của một vùng quê văn hóa” của ông in trên Báo Văn Nghệ gây tiếng vang với dư luận. Tiểu thuyết “Cọng rơm dưới đáy ao” của ông như tiếng chuông cảnh tỉnh của một thời xã hội quá tả, ấu trĩ. Trên trang viết, ông là người yêu ghét có thái độ rõ rệt. Nhiều bài thơ viết về quê hương, về người ruột thịt của ông đã đi vào lòng bạn đọc. Tôi có may mắn được tiếp xúc trực tiếp với bà mẹ, người chị gái của ông tại quê Hậu Luật.

Vì thế, khi đọc những bài thơ ông viết về mẹ, về chị gái, càng thêm thấy xúc động. Bữa về làng quê ông chơi, ông có đưa tôi đến thăm ông Bá, người bạn làng thuở chăn trâu cắt cỏ. Ông Bá ngày đó còn khỏe, đun nước chè xanh và luộc khoai lang đãi chúng tôi. Vị chè xanh đậm chát và hương vị khoai lang tơi bở, tạo dư vị xứ Nghệ khó quên.

Ông Bá còn đọc nhiều bài vè về quê hương làng xóm rất cảm động. Sau này, hình ảnh người bạn quê thuở thiếu thời, từng đi vào nhiều trang viết của nhà thơ Võ Văn Trực. Sao tôi lại chợt nhớ bài thơ của ông viết khi về quê chịu tang mẹ: 

Vĩnh viễn từ nay con không thấy mẹ nữa rồi
Đau đớn thế làm sao con nén khóc!
Một đời mẹ tám mươi năm khó nhọc
Mẹ chính là máu thịt của quê hương:
Là gốc khế tuổi thơ trĩu quả sau vườn
Cho con biết vị chua tê đầu lưỡi,
Là mát rợi bờ ao xanh rặng chuối
Cho lòng con được nếm vị ngọt ngào,
Là ngọn núi Hai Vai chót vót trời cao...
 (Vĩnh viễn từ nay - Võ Văn Trực) 

Bài thơ ra đời đã bốn mươi năm, vẫn gây ám ảnh người đọc, bởi những câu chữ giản dị, chân thành. Ông kể, bài thơ viết ngay tại quê  Hậu Luật, ngày về chịu tang mẹ. Một buổi chiều, ngồi bên ngưỡng cửa, nhớ mẹ, tứ thơ vụt đến. Bài thơ ông viết một mạch. Những cảm xúc chân thành cứ ào ạt chảy tràn trên trang giấy.

Tháng 9-2018

Vũ Từ Trang

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...