Nhà thơ Võ Văn Trực: Một "Vườn thu" tồn tại bên đời

Đời thơ Võ Văn Trực có ba bài thường được người đời nhắc tới nhiều hơn cả. Đó là bài "Vĩnh viễn từ nay", bài "Chị" và bài "Vườn thu". Không hẹn mà gặp, tất cả các bài nói trên đều thể hiện tình cảm thắm thiết, nồng hậu của tác giả với những người thân yêu nhất trong gia đình mình, và trong những tình huống đáng chia sẻ nhất của cuộc đời.

Võ Văn Trực không chỉ làm thơ, ông còn là người viết truyện - một người viết truyện giàu nội lực. Vậy chúng ta hãy cùng xem nhà văn Võ Văn Trực đã hỗ trợ nhà thơ Võ Văn Trực ra sao trong mấy bài thơ trên.

Trước nhất, là một nhà văn, Võ Văn Trực đã biết lọc lựa chi tiết ngoại cảnh, đặng từ đó xây dựng nên những cảnh huống ấn tượng, hỗ trợ cho phần thể hiện tình cảm của nhân vật (mà đa phần là chính tác giả). Bài "Vĩnh viễn từ nay" nói về nỗi đau mất mát, tâm trạng bơ vơ, trống vắng của một cậu con khi người mẹ của mình giã biệt dương thế. Đó là một bức tranh buồn, loang lổ bóng hoàng hôn với những lời trần tình thật da diết, ám ảnh:

Vĩnh viễn từ nay con không thấy mẹ nữa rồi
Con nghĩ thế, nước mắt trào nóng bỏng
Đất quá rộng và bầu trời quá rộng
Con lặng ngồi bé nhỏ giữa hoàng hôn
Nhìn nuối theo bóng mẹ cuối đường thôn
Rồi xa hút lẫn trong chiều nắng nhạt
Phía đồng ấy màn chiều dăng man mác
Nấm cỏ rầu côi cút giọt sương rơi…

Tương tự bài "Vĩnh viễn từ nay", bài "Chị" cũng mang cấu trúc của một chuyện kể, có nhân vật, lời thoại và các kỷ niệm lần lượt được đưa dẫn theo trình tự thời gian. Có những chỗ, cảnh trí đã được tác giả chăm chút tỉa tót tới từng họa tiết nhỏ, khiến không gian thơ trở nên đặc biệt có hồn, rất gợi không khí, đủ làm nổi bật hình ảnh vất vả, lam lũ của người phụ nữ thôn quê hai sương một nắng:

Mấy mươi năm đất thay đổi theo mùa
Cây thay đổi qua bao ngày nóng lạnh
Trời vào hạ mưa rào rồi lại tạnh
Tiết đông về gió bấc lại hanh heo
Khóm tre già bìm bịp trở mình kêu
Vừa tắt tiếng, chim chìa vôi đỏng đảnh
Chị vẫn thế, với dáng hình mỏng mảnh
Chân lội bùn, áo bạc mốc phèn chua
Nuôi đàn em ăn học lúc còn thơ…

Làm thơ theo kiểu kể chuyện người thật việc thật có ưu thế là giúp tác giả không bỏ rơi các tình tiết có thực trong đời sống riêng của mình, vì mạch chuyện có sức ôm chứa. Trong bài "Chị", Võ Văn Trực đã khiến người đọc cảm động khi ông kể lại rất thật tình tiết:

Ngày mẹ mất, em về chịu tang
Chị ôm mặt, nghẹn lời, nức nở:
"Cậu đã về đấy ư? Mẹ không còn nữa
Còn chị đây thu xếp cửa nhà…"
Em rùng mình, một thoáng lạnh bơ vơ
Bỗng ấm lại trong tình thương của chị

Bìa tập thơ tuyển của Võ Văn Trực.

Bìa tập thơ tuyển của Võ Văn Trực.

Tất nhiên, qua những câu trích dẫn trên, ta đã có thể thấy lối thơ kể chuyện không phải không bộc lộ những hạn chế nhất định. Như thể con dao hai lưỡi, lối thơ này có thể giúp tác giả nói được nhiều điều sát thực với cuộc sống của họ, khiến cho nhân vật được đề cập - cụ thể như ở hai bài thơ trên - hiện lên với những dáng nét, tâm tình đích thực là của mẹ, của chị tác giả (chứ không phải là người mẹ, người chị chung chung, hoặc của ai đó), song lối thơ này lại thường hay để "hở sườn" ở những đoạn dẫn chuyện.

Một tác giả dù chữ nghĩa tinh tế đến mấy cũng không dễ xử lý những "pha" như thế. Cái cách nói nhằm "đưa đẩy" mạch câu, kiểu như: "Con nghĩ thế…", kiểu như "Em rùng mình…" khiến câu thơ trở nên nôm na, thiếu đi phần tinh tế, ý nhị vốn dĩ là đặc trưng của ngôn ngữ thơ. Chưa kể, trong cả hai bài "Vĩnh viễn từ nay", "Chị", tác giả đều có những đoạn "thừa mà hóa ra thiếu". Thừa vì lặp đi lặp lại những cảnh huống cảm xúc giống nhau, thiếu vì bài thơ tuy nhiều chi tiết thực nhưng lại thiếu sức khái quát. Như bức tranh vẽ nhiều, vẽ kỹ nhưng tác giả không chú ý tới khoảng trống bên lề, khiến bức tranh mất đi  sức gợi.

Đọc bài thơ viết về mẹ của Võ Văn Trực, tôi không khỏi liên hệ tới bài thơ "Bên mồ mẹ" - cũng về đề tài trên của nhà thơ Tế Hanh. Bài thơ ngôn ngữ thật giản dị. Tác giả chỉ một đôi nét phác họa mà sao sức gợi của nó thật lớn. Bài thơ này ra đời sau bài thơ của Võ Văn Trực 3 năm. Cũng tâm trạng bơ vơ, côi cút của một người con mất mẹ, nhưng cách kết bài của Tế Hanh thì lại thật giàu sức khái quát: "Cúi đầu từ biệt mẹ/ Từ biệt cả làng quê/ Quê mẹ không còn mẹ/ Bao giờ con lại về?". Chỉ mấy lời giản dị vậy thôi mà như khía vào trái tim người đọc, có sức lay động mạnh. Không chỉ vậy, nó còn nâng bài thơ lên một tầm cao khái quát. Bài thơ vì thế đã vượt ra khuôn khổ bài thơ của một người con viết riêng cho mẹ của mình...

Không nặng về "ôn nghèo kể khổ" như trong các bài "Chị", "Vĩnh viễn từ nay", ở bài "Vườn thu", Võ Văn Trực đã không quá nệ vào hiện thực ("không quá" chứ không phải là "không có") để từ đó tương đối thung thăng thể hiện những xúc cảm hồn hậu của mình về cuộc đời, về con người và thiên nhiên Hà Nội trong tiết thu sang. Thật ra, với Võ Văn Trực, mùa thu luôn là chủ đề trở đi trở lại trong thơ ông. Nó là mùa khơi dậy trong ông nhiều hưng phấn. Nó làm lắng lại những vui buồn, trải nghiệm, khiến cách nhìn đời của tác giả cũng trở nên ấp áp, "rộng lượng" hơn. Nếu như ở bài "Mùa thu không yên tĩnh", Võ Văn Trực từng phải thốt lên: "Mùa thu này có yên tĩnh đâu em/ Đừng hỏi vần thơ anh óng chuốt" thì đến các bài "Thu về một nửa" và "Một mình tôi tìm lại", mùa thu lại trở về trong tâm tưởng tác giả với một sự thư thả chờ đón. Đã có sự trùng lặp cảm xúc, "lấn sân" nhau giữa hai bài "Thu về một nửa" và "Vườn thu". Cả hai bài đều được mở đầu bằng một hình ảnh khá khơi gợi:

Anh mở cửa ra
Thơm thảo quá… ai vừa tới gọi?
Thoáng gió mơ hồ như bàn tay mát rượi
Dắt tâm tư đi suốt chân trời

(bài "Thu về một nửa")

Một ban mai bỗng thơm gió hanh về
Tiếng lá rụng ngoài vườn cây xào xạc
Em mở cửa, hương lùa vào man mác
Anh bàng hoàng tỉnh dậy: đã mùa thu.

(bài "Vườn thu")

Mùa thu là mùa luôn khơi gợi những cảm xúc tế vi, khó diễn đạt. Những câu thơ hay về mùa thu thường chỉ là vài nét chấm phá, thiên về sự khơi gợi hơn là tả thực. Mà thơ của Võ Văn Trực thì dù ít dù nhiều luôn có yếu tố tả thực. Thậm chí, trong bài "Thu về một nửa", tác giả còn điệu đàng phân tích cả ý nghĩa màu sắc, dáng nét của cảnh trí (vốn dĩ khá mơ hồ):

Đám mây huyền ảo xa vời
Nửa trắng xốp nửa viền màu tím ngát
Như kỷ niệm rất gần như nỗi chờ xa lắc
Mùa thu về rồi đó ư em?

Nhà thơ Bungari Đôbri Rôtép, trong bài "Khúc ca đơn giản" (do Vũ Tú Nam dịch) từng viết: "Nếu anh bảo gió rằng/ khi nào/ ở đâu/ và ra sao/ gió phải thổi/ Thì gió sẽ không còn/ là gió nữa". Cách phân tích cảm xúc kỹ đến độ như Võ Văn Trực thực hiện ở trên đã vô tình làm cho sự huyền ảo của thiên nhiên, chất thơ của thiên nhiên bị phai lạt đi ít nhiều. Về điểm này, ở bài "Vườn thu", tác giả đã có cách xử lý tinh tế hơn, và vì thế mà bài thơ cũng trở nên duyên dáng, tự nhiên hơn. Cũng vẫn là sự kể chuyện theo lớp lang trình tự, hình ảnh nọ mở ra hình ảnh kia, từ thiên nhiên gợi nhắc tới tình đời, tình người, tất cả đều diễn ra nhuần nhị, giàu xúc cảm:

Thời gian đi êm nhẹ tựa lời ru
Em lặng lẽ tháng ngày như thế đó
Anh thương lắm đôi bàn tay nho nhỏ
Đã làm nên bao chuyện lạ trên đời.

Trong thơ Việt Nam từ trước tới nay, các nhân vật được xuất hiện nhiều trong những bức tranh thơ về mùa thu thường vẫn là những đôi bạn trẻ đang trong mùa… yêu đương. Rất hiếm bài thơ nhân những xúc cảm khi mùa thu tới mà nói về ân nghĩa vợ chồng, mà ca ngợi công lao vất vả khuya sớm của người vợ như bài "Vườn thu" của Võ Văn Trực. Nếu ví bài thơ như một tấm thảm quý, nơi đan nối tình cảm keo sơn gắn bó vợ chồng thì tấm thảm thơ "Vườn thu" tuy màu sắc không rực rỡ đến độ ngay lập tức thu hút con mắt người đời, nhưng nếu sử dụng lâu, tìm hiểu kỹ, ta sẽ thấy những sợi đan của nó khá bền chặt. Đặc biệt, so với nhiều bài thơ khác của cùng tác giả, ở những chỗ chuyển đoạn, chuyển ý, nó rất ít để lộ mấu nối…

4/5/2012

P.K.

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.