Nhà thơ Vân Long: Một loài cá ăn chìm

Ấy là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với nhà thơ Vân Long. Tôi thấy ông là người lịch lãm, nói năng nhỏ nhẹ và rất dễ gần, dễ mến. Ông khuyên tôi rất chân thành: “Là người còn trẻ thì rất nên viết nhiều, nên quan niệm: Viết như là để thử sức, đào bới mình vậy. Trước đây mình cũng từng nghĩ như vậy và được nhiều nhà thơ đàn anh khuyên như vậy đấy”.

1.Vào những năm 80 trở về trước, đối với những người viết trẻ, có thơ được lên mặt  báo quả là khó khăn. Nhìn chung là cứ phải xếp hàng dài dài và có khi phải lâu thật là lâu mới hy vọng đến lượt. Cũng có không ít người bị hẫng hụt vì những sự cố không đáng có. Bởi vì hồi ấy số đầu báo ít, “đất” dành cho văn chương nói chung và thơ nói riêng cũng ít, trong khi số người “gác gôn” thơ lại khá chặt chẽ và số người làm thơ vẫn đông đảo.

Đối với những tờ báo không chuyên sâu về văn hóa văn nghệ, mỗi tuần có khi chỉ cho ra mắt độc giả vẻn vẹn một bài thơ. Vậy mà vẫn có một tờ báo mở ra một cánh cửa tương đối hào phóng với thơ, mỗi tuần vẫn dành cho thơ khoảng ¼ trang khổ to, đăng tải khoảng 3 – 4 bài thơ của 3 – 4 cộng tác viên. Ấy là tờ Độc lập – cơ quan ngôn luận của Đảng Dân chủ Việt Nam, từng tồn tại trong làng báo Việt Nam đến năm 1988. Sở dĩ có hiện tượng lạ này là do Báo Độc Lập có Tổng biên tập là nhà thơ Ngô Quân Miện chăng?

Vào thời điểm từ 1979 đến 1982, tôi tự nhận mình là người làm thơ trẻ ít nhiều có may mắn khi được Báo Độc Lập đăng khoảng 5 – 7 bài. Một lần, sau khi đi Hòn Gai về, viết được bài “Trước biển Hòn Gai”, tôi háo hức gửi Độc Lập và được báo đăng sau đó ít ngày.

Bây giờ, “Trước biển Hòn Gai” chỉ là một kỷ niệm đẹp của thuở ban đầu lưu luyến ấy, không làm tôi nhớ lâu. Nhưng tôi nhớ nhất một chi tiết: Câu thơ “Cho tôi nguôi nỗi nhớ về em” trong hai câu thơ: “Và Hòn Gai như một người con gái/ Cho tôi nguôi nỗi nhớ về em” được người biên tập “chỉnh” thành: “Tôi không nguôi nỗi nhớ về em”.

Ban đầu tôi hơi khó chịu. Hình như cũng giống như nhiều người cầm bút làm thơ khác, mỗi khi bị đụng câu, đụng chữ… tôi vẫn hay có cái “máu” phản ứng bằng cách tự ái thường trực như vậy. Nhưng sau khi bình tĩnh ngẫm nghĩ lại, tôi thấy việc chỉnh sửa ấy là có lý. Nếu nguôi nỗi nhớ về em thì chẳng hóa ra mình đã ở bên em này mà quên em khác, cho dù em – Hòn Gai và em – người yêu tôi xa nhau một trời một vực, có lẽ phải “Tôi không nguôi nỗi nhớ về em” mới ổn, câu thơ mới có ý khác hơn.

Tôi bèn đến trụ sở báo ở phố Lý Thường Kiệt cảm ơn nhà thơ Ngô Quân Miện một câu. Không ngờ, khi đến nơi, nhà thơ Ngô Quân Miện bảo: “Cậu nên cảm ơn nhà thơ Vân Long – người đang là Trưởng ban Văn nghệ, trực tiếp biên tập thơ của báo mình, người vừa chuyển từ Ty Văn hóa Hà Tây về đây ít năm”.

Ấy là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với nhà thơ Vân Long. Tôi thấy ông là người lịch lãm, nói năng nhỏ nhẹ và rất dễ gần, dễ mến. Ông khuyên tôi rất chân thành: “Là người còn trẻ thì rất nên viết nhiều, nên quan niệm: Viết như là để thử sức, đào bới mình vậy. Trước đây mình cũng từng nghĩ như vậy và được nhiều nhà thơ đàn anh khuyên như vậy đấy”.

Sau đó, vào năm 1993, có một lần Vân Long ghé qua Báo Hà Nội mới. Ông nói với tôi: “Mình đã chuyển sang Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Mình sắp làm Tuyển tập thơ Việt Nam hiện đại tập 2, sang năm xuất bản, mỗi người một bài, mình nhớ đến Giang. Ông gửi ngay thơ cho mình, kẻo muộn”. Hay tin, tôi cảm động mãi và thầm cảm ơn nhà thơ đàn anh đã quan tâm. Đến quý 4 năm 1994, đúng hẹn, một tuyển thơ gồm 200 bài thơ của 200 tác giả ra đời, trong đó có nhiều tác giả hải ngoại như Nguyễn Hồi Thủ, Luân Hoán, Khế Iêm…

Có lẽ là lần đầu tiên, một tập thơ được xuất bản qua con đường xã hội hóa. Trước khi đọc thơ, người đọc bắt gặp dòng chữ: Trân trọng cảm ơn sự đóng góp tài trợ của Công ty Vận tải đường sông số 2 (giám đốc Dương Xuân Chính).

Ban đầu, tôi nghĩ vậy. Sau mới biết mình đã hoàn toàn võ đoán, bởi vì ngay sau khi chuyển về nơi công tác mới, Vân Long thấy nhiều bản thảo thơ ở Nhà xuất bản Hội Nhà văn đang ở dạng “tồn kho”, chưa in được vì kinh phí xuất bản eo hẹp, ông đã mạnh dạn đề xuất Ban Giám đốc giải quyết theo hướng “nhà nước và nhân dân cùng làm”. Chính vì thế mà mới có màn mở đầu bằng việc ra mắt bạn đọc một tập thơ của ba tác giả: Trần Quốc Thực, Dương Kiều Minh và Nguyễn Lương Ngọc.

Qua đó, tôi mới nhận ra: Vân Long là một người luôn yêu thơ và hết lòng với  thơ. Và tôi tin, hai kỷ niệm này tuy làm tôi nhớ, nhưng Vân Long thì chắc hẳn đã quên từ lâu rồi. Ông làm sao có đủ thời gian để nhớ những chuyện có thể là rất thường ngày và thường xuyên vì thơ của ông như thế.

2.  Vân Long làm thơ từ rất sớm. Đầu những năm 50, ông đã tham gia Nhóm thơ Hoa Phượng cùng với một số nhà thơ, trong đó có Băng Sơn. Thời ấy, ông có khoảng 15 – 16 bài thơ đăng trên một số tờ báo có xu hướng tiến bộ như “Tiếng dân”, “Đời mới”, “Thẩm mỹ”… Và tuy ở vùng địch tạm chiếm nhưng tâm tưởng ông vẫn hướng về khát vọng độc lập tự do của dân tộc.

Cách nay không lâu, ông đã đọc lại mấy câu thơ viết từ lâu lắm rồi, tôi nghe và vẫn thấy không cũ. Tôi thấy tư chất và phẩm cách thi sĩ đã manh nha trong ông từ rất sớm:

Là hoa, đến thời, cứ nở
Ngại chi giông gió phũ phàng
Một đóa quỳnh trắng mới hé
Mảnh mai trong cõi dương gian…

Những năm ở Đoàn Văn công Hải Phòng, thời kỳ ác liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, thơ Vân Long như góc cạnh hơn, tốc độ hơn, vạm vỡ hơn, dữ dội hơn, mang hơi thở và dấu ấn thời cuộc hơn.

Đây là một trích đoạn trong “Thành phố tôi yêu” được ông viết từ năm 1970: “Thành phố này – tôi yêu/ Một tình yêu kỳ lạ/ Bằng cái đau của mái trường giặc phá/ Bằng nỗi vui một buổi thông cầu/ Cái trăn trở của không gian vùng bom nổ chậm/ Cái hào hùng trong tiếng hát trầm sâu/ Thành phố của bộn bề sắt thép/ Từng sơ tán cả một vùng công nghiệp/ Chiếc cờ-lê cũng khăn gói đường dài/ Cỗ máy khổng lồ bẩy chục tấn cùng trên vai/ Nơi bài học viết bằng lửa sắt/ Bằng tư thế bóp cò không chớp mắt”.

Đây là những trích đoạn trong “Ngày và đêm trên bến cảng” và “Qua quán bán hoa” cũng được ông viết trong những năm tháng hào hùng ấy: “Thời gian ở đây biến thành dòng xe nối đuôi nhau không bao giờ hết/ Không gian bị cắt chia bằng những đường quyết liệt/ Mũi nhọn con tàu, ngang dọc những neo, dây/ Và nhiệt tình đo bằng tấn trên vai…/ Không có ca một, ca hai/ Chỉ một dây chuyền dài/ Dòng xe chuyển động”; “Sống và chết, chẳng phải bàn chi nữa/ Những mái nhà kiêu hãnh ngẩng cao”…

Nhà văn Hoàng Quốc Hải “mừng tuổi” nhà thơ Vân Long (bên phải) năm 2013.
Nhà văn Hoàng Quốc Hải “mừng tuổi” nhà thơ Vân Long (bên phải) năm 2013.

Đôi khi, ông cũng là người ưa trải nghiệm. Năm 65 tuổi, trong “Đêm chờ xét nghiệm”, ông đã trải lòng mình mà viết những câu thơ gan ruột: “Ngày mai là u gì? Tôi vui lòng chấp nhận/ Phải chăng là số phận/ Trời dành riêng cho mình/ Dành cho mỗi loài chim/ Một tầm bay giới hạn/ Dành cho mỗi loài cá/ Một mức nước nông sâu…”.

Và ngay cả trong sự phấp phỏng đợi chờ may rủi, ông vẫn hướng về ngày mai trong một niềm vui rất thi ca, rất gần gũi và bình dị: “Trời vẫn một màu xanh/ Thêm một hai thập kỷ/ Trồng thêm mươi khóm hoa/ In thêm vài cuốn sách/ Cháu ríu rít trong nhà/ Chim lanh chanh trước cửa…”.

Nhưng hơn hết, ông vẫn trở về với bản thể thi sĩ của mình. “Ngõ Tràng An” là một bài thơ tiêu biểu của ông trong sự “vẫn trở về…” ấy: “Tôi thả bước lơ ngơ/ Trưa vàng/ Ngõ cũ/ In một bước tình cờ/ Lên dấu chân ngày nhỏ”. Rồi cả “Ngõ Tràng An” như dồn nén lại để bật ra hai câu thơ được coi như “thương hiệu” thơ Vân Long:

Hoa đại đầu thế kỷ
rụng vào tôi-bây-giờ…

3. Thời trẻ, nhà thơ Vân Long có một đời sống vất vả về cả vật chất lẫn tinh thần. Vì bị người cha đối xử không công bằng, ông đã rời nhà, sống một cuộc sống tự lập từ rất sớm. Ông tâm sự: “Có lẽ vì có nhiều vợ, lắm con, lại thiếu lòng nhân từ nên cha tôi đã không muốn tôi ở chung với ông, với gia đình mới của ông… Bây giờ, đã 83 tuổi rồi, nhớ lại chuyện cũ, tôi vẫn còn buồn. Nhưng biết đâu, trong cái rủi lại có cái may… Đến khi trưởng thành, tôi sớm tự chủ hơn. Tôi từng là diễn viên nhạc của Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam, cán bộ Sở Văn hóa Hải Phòng, cán bộ Sở Văn hóa Hà Tây, Trưởng ban Văn nghệ Báo Độc lập, chuyên viên biên tập Nhà xuất bản Hội Nhà văn và từng gắn bó với ba vùng đất là Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây”.

Năm 65 tuổi, qua “Đêm chờ xét nghiệm”, Vân Long viết: “Tôi loài cá ăn chìm/ Thơ và đời lặng lẽ”. Như vậy, ông đã tự nhận mình là loài cá ăn chìm trong thơ và trong cuộc đời của mình.

Trên thực tế: Cá ăn chìm là một loài cá thường hoạt động ở tầng nước sâu, ưa kiên trì, bình tĩnh phát hiện, tìm kiếm những gì nơi đáy nước. Rồi thở. Rồi sống. Rồi… Và biết đâu chính ở nơi tưởng yên ả ấy, lại bắt gặp những gì không yên ả, như sóng ở đáy sông chẳng hạn.

Đặng Huy Giang

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.