Nhà thơ Tô Hà và “mối tình si” với Thơ

Tô Hà chẳng những là một tác giả rất có cá tính trong sáng tác mà còn là một người cực kỳ khó tính trong việc tạo nên những câu thơ. Để làm nên một câu, một bài thơ, ông mất rất nhiều công sức. Ông hình thành nên bài thơ có thể không mất nhiều thời gian, thậm chí có trường hợp chỉ sau nửa giờ đồng hồ. Nhưng để hoàn chỉnh phải mất cả tuần, có khi cả tháng, thậm chí là cả năm. 

Thời gian ông dành cho sự đẽo gọt, mài rũa không bao giờ là đủ. Nhiều trường hợp câu thơ hoặc một chữ nào đó đã rất ổn, nhưng ông vẫn tiếp tục suy nghĩ tìm kiếm để thay đổi cho đến khi vừa ý hoặc không tìm được mới đành chịu. Một ví dụ: Trong bài "Con đường lên Sơn Tây"  có hai câu tôi cho là rất đặc sắc: "Ngựa sững vó đầu làng/ Quán gầy xôi nếp thơm".

Tô Hà cho rằng "ngựa sững vó" thì được rồi nhưng "quán gầy" chưa ổn. Tôi nói viết như thế là rất hay. Quán gầy là một hình tượng đắt, rất gợi cảm, rất đúng với những quán nước bé nhỏ ở hai bên ven đường thời trước. Tôi thấy đã rất hay nhưng Tô Hà nói "quán gầy" còn có phần trừu tượng, chưa biểu hiện được sự tiêu điều, xiêu vẹo, có thể đổ sụp bất cứ lúc nào của những quán như thế này. Tôi bảo không thể có chữ nào hay hơn. Tìm mãi không ra được chữ khác, ông mới chịu để "quán gầy".

Tô Hà là nhà thơ rất thích âm nhạc. Ông biết và thuộc khá nhiều bài hát. Trong nhiều bài nổi tiếng, ông vẫn vạch ra được nhiều lời ca ngô nghê, thể hiện sự dễ dãi hoặc cẩu thả của tác giả. Có thể nói trường hợp nào cũng chính xác và tôi rất tâm đắc.

Ông bảo có những nhạc sỹ ông rất yêu thích, hâm mộ toàn bộ sự nghiệp nhưng riêng về viết lời ca thì có rất nhiều trường hợp chưa được. Ông bảo ở nước ta, sau Văn Cao là nhạc sỹ lớn nhất, phải kể ngay đến Đỗ Nhuận. Bài "Du kích sông Thao" của nhạc sỹ này là một trong những ca khúc hay nhất của nền âm nhạc cách mạng.

Nhưng có khá nhiều lời ca chưa ổn, ví như "Hồng Hà ơi! Nay cũng mùa thu thấy quân thù "ngơ ngác" nhìn sông "bên" Việt Trì tàn phá. Hồng Hà reo, du kích về đây ngăn quân thù như nước phù sa đang "pha hòa" dòng Lô…".  Ông  rất say sưa phân tích để tôi thấy cái dở của những chữ ở trên. Tất nhiên là tôi thấy rất chí lý.

Nhưng cũng là người sáng tác ca khúc, tôi "bênh" Đỗ Nhuận: "Thì anh cũng phải thông cảm cho nhạc sỹ, nhiều khi do cần tuân thủ giai điệu mà buộc phải hy sinh phần lời ca, chấp nhận sự chưa hoàn chỉnh, có khi không được sáng nghĩa chứ chưa nói là hay. Nhưng rồi công chúng vẫn chấp nhận đó thôi. Phải thế nào bài hát đó mới sống mãi theo thời gian chứ".

Tô Hà phản ứng tôi khá gay gắt: "Nghĩ như ông thì chán bỏ mẹ, còn nói làm quái gì nữa!". Rồi có lần, ông gạ tôi: "Này, Nguyễn Đình San. Tôi muốn làm một cuốn vạch ra mọi sự yếu kém về ca từ trong các bài hát hiện nay. Chúng ta cùng thực hiện. Tôi phân tích cái dở về tu từ. Ông là nhạc sỹ sẽ phân tích sự bất ổn khi ghép nó vào âm nhạc. Được không? Cuốn này mà ra đời thì sẽ rất có ích và tôi tin bạn đọc sẽ rất hưởng ứng. Ông thấy sao?".

Tôi chỉ ừ hữ, vâng dạ cho xong vì nghĩ không dễ thực hiện. Vấn đề trên nếu viết một bài báo, hoặc tiểu luận thì được, chứ triển khai thành cả một cuốn sách sẽ không khả thi vì khó tránh khỏi sự liệt kê dài dòng, sẽ bôi ra cho dày cuốn sách.

Tôi không chỉ chuyên làm thơ. Nhưng mỗi khi gặp nhau là Tô Hà hầu như chỉ nói chuyện về thơ. Thăm hỏi cuộc sống, vợ con, công việc, nói đến người này người khác mà cả hai đều quen biết, giao du… cũng chỉ được vài câu rồi cuối cùng lại quay trở về chuyện thơ phú. Và chỉ có chuyện này mới có thể khiến Tô Hà để tâm, hứng thú.

Có cảm giác ông bàn về thơ không bao giờ là đủ, có thể thâu đêm suốt sáng. Tất nhiên phải trước những đối tượng có khả năng nghe, hiểu, thẩm thấu, tung hứng được những điều ông nói. Lúc còn sống, Tô Hà ở khu tập thể Đại học Bách khoa, tôi ở khu Fafim (Ngã Tư Sở). Vợ ông sang Ăngôla làm chuyên gia y tế. Ở nhà, ông rất buồn, nhớ vợ.

Lúc này ông là trưởng ban biên tập báo Người Hà Nội, tôi ở báo Văn hóa-Nghệ thuật. Một hôm, ông gọi điện đến cơ quan tôi thông báo sự việc vợ đã đi công tác xa và nói tôi đến chơi để nghe một sáng tác mới của ông. Tôi ít nhiều lưỡng lự thì ông nói liền: "Bài thơ thú vị lắm. Ông đến nhé". Tô Hà cũng không quên nói thêm: "Vợ đi xa, tôi rất buồn. Không lẽ ông không cảm thông với tôi mà lại tiếc thời gian?". Ông đã nói vậy, tôi không thể không đến.

Ngay chiều hôm ấy, tôi đến nhà ông (cánh làm báo chúng tôi hồi ấy chỉ đến cơ quan buổi sáng). Đến nơi đã thấy một đĩa lòng lợn ú hụ để giữa mâm. Thì ra ông đã chuẩn bị cho cuộc đàm đạo. Ông đọc rất say sưa bài thơ "Em về chiêm bao" vừa sáng tác tặng vợ đi công tác xa: "Ăng-gô-la là đâu/ Mà lên đường em khóc?/ Ru-an-đa là đâu/ Mà tháng năm dằng dặc?/ Mà nửa vòng trái đất/ Mà nửa vòng chiêm bao". Đọc xong, Tô Hà hỏi cảm tưởng của tôi.

Thấy tôi không trả lời ngay mà có phần dè dặt, ông nói liền: "Bình thường phải không? Mình biết ông khó tính. Đúng. Bài này trung bình, mình chỉ ưng ý câu cuối cùng. Lúc mới viết xong thì sướng lắm, muốn đọc ngay cho bạn bè nghe. Nhưng bây giờ thì hết muốn. Thôi, coi như nhật ký bằng thơ". Tôi rất nể đức tính ấy của Tô Hà. Ông say sưa từng lời thơ của mình, sống chết với nó. Có cảm giác ông yêu nó hơn mọi thứ trên đời. Nhưng không vì thế mà chủ quan, ngộ nhận, chỉ thấy thơ mình hay còn thì chẳng để ý đến sáng tác của người khác như nhiều người viết vẫn mắc tật này.

Sự khó tính với bản thân trong sáng tác của Tô Hà không phải ai cũng có được. Có rất nhiều bài lúc đầu ông viết dài. Nhưng rồi đọc đi đọc lại, vẫn sẵn sàng lược bỏ rất nhiều, có khi chỉ để lại một khổ. "Quán gió" là một trong những bài thơ khá của ông. Lúc đầu ông viết 6 khổ, mỗi khổ 4 câu, vị chi 24 câu tất cả. Cuối cùng ông vứt hẳn đi 5 khổ để chỉ còn 1 khổ 4 câu. Tôi nói 5 khổ kia có thể chưa đặc sắc, nhưng cũng không đến nỗi nào, bỏ đi thì phí bao nhiêu công sức.

Ông nói nghệ thuật không thể trung bình mà phải đặc sắc, ít nhất là theo quan niệm của người sáng tác. Bài "Em về chiêm bao" tôi vừa nhắc ở trên lúc đầu Tô Hà cũng làm khá dài. Nhưng cuối cùng ông đã lược bỏ gần hết để chỉ còn lại 6 câu như đã dẫn.  Bài "Qua thị trấn" cũng là một trường hợp thú vị. Sau khi làm xong, ông cứ băn khoăn mãi vì chưa yên tâm một câu. Lúc đầu ông viết: "Dưới gốc bàng già tán lá tươi xanh".

Hai chữ "tươi xanh" ông cho rằng quá bình thường, thậm chí là tầm thường. Ông mất ăn mất ngủ vì chi tiết này. Phải tới vài tháng qua đi, bỗng một hôm, ông sửa được lại thành "ran xanh". "Dưới gốc bàng già tán lá ran xanh" quả là hay hơn rất nhiều.

Từ một câu chỉ là lời nói thông thường trở thành rất gợi cảm. "Ran" là một từ tượng thanh đã biến thành "ran xanh" chỉ màu sắc. Như vậy, người đọc hình dung dưới những lá xanh kia có rất nhiều chim đang trú ngụ, hót ríu ran. Sự sống đã được biểu hiện sinh động hơn rất nhiều qua từ "ran xanh" mà nếu "tươi xanh" thì chỉ là những chiếc lá không khô héo.

Có thể nói Tô Hà tiêu biểu cho khuynh hướng duy mỹ, đặc biệt là trong việc làm thơ. Ồng quan niệm thơ phải đạt được cái đẹp vĩnh hằng. Vậy nên khi có ai in sai hoặc đọc sai thơ của mình, ông vô cùng buồn phiền, bứt rứt, bức xúc. Tôi có phổ nhạc bài thơ "Con đường lên Sơn Tây" của ông. Tôi đề nghị bỏ chữ "con" để chỉ là "Đường lên Sơn Tây". Ông dứt khoát không đồng ý với lý luận: "Đường" thì có phần chung chung, gần với nghĩa bóng (đường hướng, đường lối). Ông muốn nói đến con đường cụ thể là từ Hà Nội lên Sơn Tây nên phải có chữ "con".

Tôi cũng không vừa: "Nhà thơ ơi! Ta vẫn hỏi thăm nhau: Đường đến điểm A, nơi B đi thế nào, chứ có ai nói "con đường" đâu". Tô Hà vẫn một mực bảo lưu ý mình. Cuối cùng chúng tôi đành dung hòa bằng cách trong bài thì tôi để nguyên - có chữ "con". Nhưng tên bài hát thì chỉ là "Đường lên Sơn Tây". Khi thu thanh bài hát này ở Đài Phát thanh Hà Nội, tôi bận công tác xa nên không có mặt tại phòng thu thanh. Biên tập viên sơ ý đã để ca sỹ hát sai một chữ trở nên rất ngớ ngẩn: "Triền đay" thành "Chiều đay" (Triền đay hoa trắng vỗ).

Tô Hà rất bức xúc việc này. Ông đốc thúc tôi yêu cầu Đài thu thanh lại. Tôi chưa thực hiện, ông nhắc đến cùng. Tôi đành nói: "Tôi đã nhắc. Họ hứa sẽ thu lại. Nhưng xin anh hiểu cho là chúng ta không là cái đinh gì đối với họ. Thu lại tốn kém lắm. Giá bảo chúng ta là Đỗ Nhuận và Huy Cận (hai nhạc sỹ và nhà thơ lớn, có quyền chức to lúc bấy giờ) thì họ sẽ chiều các tác giả ngay. Nhưng ta chỉ là ta". Tô Hà càng bực, mặt đỏ bừng, phán: "Vậy xin ông đến Đài nói họ đừng phát nữa. Tôi xấu hổ về cái chữ "chiều đay" ấy lắm".

Tô Hà là như thế. Ông si thơ như người trai si tình mê người đẹp. Ông sẵn sàng bỏ thời gian nhiều năm để thực hiện cuốn sách "Những câu thơ trong trí nhớ" sưu tầm những câu thơ hay nhất. Ông khó tính đến nghiệt ngã trong nghiệp thơ bao nhiêu thì lại dễ tính, xuề xòa trong cuộc sống đời thường bấy nhiêu. Ông là một gương mặt thật đáng yêu, khó quên trong làng thơ đương đại. Thật tiếc khi ông từ giã cõi tạm quá sớm, lúc mới 52 tuổi - độ tuổi đang chín của nghề cầm bút (Tô Hà sinh năm 1939, mất năm 1991).

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.