Nhà thơ Nguyễn Trung Thu và những "tiếng thầm"

Căn phòng hơn 150 mét vuông ở khu chung cư Trung Hòa - Nhân Chính dường như rộng hơn bình thường bởi vẻ yên tĩnh, trống vắng đến lạ lùng.  Bà Hòa ngồi bên bàn làm việc của chồng, nhà thơ Nguyễn Trung Thu, lật giở từng trang tập thơ "Nhật ký Trường Sơn" còn thơm mùi giấy. Đây là tập thơ di cảo gồm những bài ông viết trong thời gian ở chiến trường, bà đã dày công biên soạn để in cho kịp dâng lên ông nhân ngày giỗ lần thứ ba.

Bà Hòa ngậm ngùi tâm sự: "Tập sách như một báu vật đối với hai cô con gái của chúng tôi hiện đang sống xa Tổ quốc, còn đối với tôi, nó như một lời thì thầm tâm sự của anh ấy trong những ngày tôi phải sống một mình kể từ khi anh ấy ra đi vào cõi vĩnh hằng".

Đúng như tên sách, đó là tập nhật ký bằng thơ chất chứa nỗi lòng trắc ẩn, đong đầy nỗi nhớ thương của một người cha yêu con, một người chồng yêu vợ, cứ day dứt trở thành nỗi ám ảnh xuyên suốt hơn 200 trang sách. Bà Hòa cho biết, ngày nhà thơ Nguyễn Trung Thu ra trận, cô con gái nhỏ Thu Thủy chỉ mới tròn 5 tuổi. Bình thường khi ở nhà, ông yêu chiều và quấn quýt với con lắm. Bởi thế khi xa con, niềm nhớ thương của ông trút hết cả vào thơ, có hàng trăm bài thơ ông đã viết, đã ghi chép dày chi chít trên mặt giấy, có những câu chữ bây giờ đã bắt đầu phai nét mực, có những trang viết nhòe đi cùng giọt nước mắt mặn mòi của người cha trong đêm khi nghĩ về hậu phương, tưởng tượng hình ảnh vợ con: "Anh thương em lắm chốn hậu phương/ Gắng chèo chống những ngày anh ra trận/ Việc cơ quan, việc mình em gánh nặng/ Mấy lo buồn cũng chỉ một mình em/ Con đau ốm chẳng có anh bên/ Chia sẻ cùng em những giờ thao thức/ Em gặp chuyện đời phiền phức/ Biền biệt người tri âm/ Nơi sơ tán xa xăm/ Hai mẹ con "xảy nhà ra thất nghiệp"/ Tháng nối tháng với mấy đồng lương hẹp/ Trăm thứ tiêu dùng em tính sao đây/ Mường tượng em mảnh mai xanh gầy/ Đôi mắt quầng thâm tư lự/ Sau những đêm mất ngủ/ Anh nghĩ mà thương em, thương em (Anh thương em).

Trong "Nhật ký Trường Sơn", ngoài mảng thơ viết về gia đình thì mảng thơ viết về Trường Sơn, về Bác Hồ cũng chiếm một tỉ lệ tương đối lớn. Đặc biệt, không thể thiếu một trong những bài thơ thành công nhất của đời thơ Nguyễn Trung Thu là bài "Đêm Trường Sơn nhớ Bác". Nhắc đến bài thơ này, bà Hòa chia sẻ: "Anh Thu kể lại với tôi rằng, bài thơ này anh viết vào đêm 6/6/1972 tại Quảng Trị. Lúc đó trời đã rất khuya, anh cảm thấy khó ngủ trong lán hầm ngột ngạt, bèn ôm võng ra mắc nằm bên suối. Đêm ấy, trăng vằng vặc sáng trên cả đại ngàn. Chợt nghĩ cảnh Trường Sơn lúc này y hệt cảnh rừng Việt Bắc năm nào hồi kháng chiến chống Pháp mà Bác Hồ đã miêu tả trong bài thơ "Cảnh khuya"... Và dưới ánh trăng, anh đã cầm bút viết lên lòng bàn tay mấy câu thơ đầu tiên. Khi trở về lán trại, anh chép lại và sáng hôm sau, bài thơ được hoàn thành: "Đêm Trường Sơn/ Chúng cháu nhìn trăng nhìn sao/ "Cảnh khuya như vẽ"/ Bâng khuâng chúng cháu nghĩ/ Bác như đã đến nơi này/ Đêm Trường Sơn/ Chúng cháu nghe tiếng suối/ "Trong như tiếng hát xa"/ Chúng cháu ngỡ như từ Pác Pó/ Suối về đây ngân nga/ Bỗng chúng cháu bồn chồn thương nhớ Bác/ Rừng khua đã dậy tiếng gà/ Súng trĩu nặng vượt dốc cao ngàn thước/ Đường Trường Sơn chúng cháu dồn chân bước/ Con đường Bác mới đi qua". Sau đó ít lâu, bài thơ được in trên Báo Nhân Dân và ngay lập tức được nhạc sĩ Trần Chung phổ nhạc. Năm 1999, nhân 40 năm ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn, Đài Tiếng nói Việt Nam và binh đoàn Trường Sơn đã tổ chức cuộc bình chọn ca khúc hay về đề tài Trường Sơn và bài hát "Đêm Trường Sơn nhớ bác" đã được bị chọn là bài hát hay nhất trong 10 bài hát hay về Trường Sơn.

Bà Hòa tâm sự, con người trong thơ của nhà thơ Nguyễn Trung Thu và con người ở cuộc đời thường không khác nhau. Ông điềm đạm, hiền lành, ít khi nổi nóng. Mỗi lần gặp chuyện gì không hay không phải ông đều cười trừ và tặc lưỡi cho là chuyện tầm phào cả. Bất kể khi nào nói đến chuyện vất vả khó khăn của bạn bè ông cũng đều nhíu mắt rồi bật lên những lời chia sẻ: "Ôi! Thương lắm". Đọc bài thơ nào của bạn bè trên báo ông cũng gọi điện báo tin rồi nhắn lại: "Mình còn giữ tờ báo đây, nếu cần mình chuyển đến cho". Thế rồi ông giữ gìn tờ báo phẳng phiu cẩn thận đưa đến tay bạn bè. Ông sống sao, nghĩ sao viết vậy, không thích đưa vào thơ những lý thuyết cao siêu này hay tuyên ngôn to lớn nọ, dù ông, với tư cách là một nhà giáo, sau này là Phó Vụ trưởng, chuyên viên cao cấp Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) đi nhiều, đọc nhiều và gặp gỡ nhiều nhà văn, nhà thơ, học giả lớn. Có lần, khi tâm sự với vợ, ông đã tự nhủ rằng: Có lẽ chính vì chỉ viết về những câu chuyện quen thuộc, những tình cảm gia đình nên thơ ông không hay, không có sức bật như những bạn thơ đương thời? Nhưng, nói như nhà thơ Vũ Quần Phương: "Thơ Nguyễn Trung Thu tác động đến xã hội là tác động theo một giọng thầm… Đọc anh thấy cuộc đời thật đẹp, đáng chia chút, nâng niu và chỉ khi biết nâng niu chia chút thì cuộc đời mới đẹp. Người đọc yêu giọng thơ khiếm tốn, yêu cách thể hiện trực tiếp, không mượn tài thơ bù đắp cho chỗ thiếu hụt của tình, của ý".

Giờ đây, ở vào tuổi gần 70, một mình trong căn nhà rộng với nỗi nhớ các con cháu ở xa và nỗi buồn lẻ bóng khi thiếu vắng người chồng hết mực yêu thương bên cạnh, bà Hòa chỉ còn biết cách tìm lại kỷ niệm xưa bằng những bài thơ và hàng trăm bức thư tình hai ông bà đã viết cho nhau từ ngày họ mới quen nhau ở giảng đường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Bà đưa tôi xem một bức thư Nguyễn Trung Thu viết gửi bà hồi hai người mới bắt đầu yêu nhau. Nét mực vẫn còn nguyên vẹn những dòng chữ nắn nót trên tấm giấc pơ-luya xám: "Càng ngày anh càng thấy yêu em gấp bội, nhiều lúc như điên dại nữa. Em luôn luôn sống giữa lòng anh đấy. Trái tim anh đã khắc sâu, đã vĩnh viễn khắc sâu hình bóng của em rồi. Có em đường dài anh đi anh thấy như ngắn lại, đêm đêm ngọn đèn anh làm việc sáng hơn, phòng nhỏ anh ở ấm hơn nhiều. Nhiều lúc anh đã nghĩ, có em, dường như ở trong cuộc đời anh sẽ không có khái niệm "khó khăn"… Và quả thật, cho đến những giây phút phải chống chống chọi lại với căn bệnh ung thư quái ác, nhà thơ Nguyễn Trung Thu vẫn viết những dòng thơ "Dặn vợ" cuối cùng

Thiên Kim

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.