Nhà thơ Nguyễn Đình Thi: Sóng mãi còn reo

Từng nói vui "mình là người trẻ nhất trong lớp các nhà văn tiền chiến", song Nguyễn Đình Thi chỉ thực sự đến với thơ khi ba lô lội suối trèo đèo tham gia cuộc kháng Pháp. Và, không giống những bài hát tràn đầy hào khí cách mạng làm nức lòng đồng bào cả nước mà ông sáng tác trước đấy, khởi đầu, thơ Nguyễn Đình Thi nhỏ nhẻ, kín đáo như những tiếng… nói thầm...

Nguyễn Đình Thi từng viết trong bài "Đường núi": "Chiều nhạt nhạt về nơi nào xa lắm/ Ngây ngất sương mây/ Lối mòn không dấu chân/ Ta nghe ta hát một mình…". Trước mắt nhà thơ trẻ, tất cả như vẫn còn mù sương. Ông phải tự tìm đường đi cho mình, và phải dũng cảm xác định việc làm thơ lúc ấy chỉ là "ta nghe ta hát một mình", chưa dễ nhận được sự đồng điệu, sẻ chia của số đông người đọc.

Với thơ Nguyễn Đình Thi, thực tế đã diễn ra như vậy. Và không dừng ở đó. Những người không "cảm" được lối thơ mà họ cho là "thiếu cởi mở", có phần "kiêu kỳ", "xa rời đại chúng" ấy thậm chí còn lớn tiếng kêu gọi phải "đuổi thơ Nguyễn Đình Thi ra khỏi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa". Cuộc tranh luận về thơ không vần của Nguyễn Đình Thi hồi tháng 9 năm 1949 ở chiến khu Việt Bắc thực chất là một cuộc "chấn chỉnh" khuynh hướng sáng tác của Nguyễn Đình Thi và những người có cách viết như ông. Nhiều ý kiến nặng nề, gay gắt đã tới tấp được quăng ra, đa phần là của các nhà thơ đàn anh và những vị lãnh đạo văn nghệ chủ chốt. Về phần mình, Nguyễn Đình Thi đã có những ý kiến "tự vệ" thoạt nghe thì mềm mỏng nhưng thực ra lại khá cứng vững, tự tin, thể hiện một tầm nhìn xa: "Theo tôi, những luật lệ của thơ, từ âm điệu, đến vần, đều là những võ khí rất mạnh trong tay người làm thơ. Nhưng không phải hễ thiếu những võ khí ấy là trận đánh nhất định thua. Thiếu võ khí ấy, trận đánh gay go thêm nhiều, nhưng người làm thơ vẫn có thể thắng" và "Thơ của một thời mới, trong những bước đầu, ít khi chịu những hình thức đều đặn, cố định. Nó chạy tung về những chân trời mở rộng để tìm kiếm, thử sức mới của nó. Rồi thời đại vững lại, thơ nảy nở trong những hình thức trong sáng đã tìm thấy".

Công bằng mà nói, về đường hướng sáng tác, quan điểm của Nguyễn Đình Thi là đúng đắn, song đi vào những tác phẩm cụ thể, ông chưa làm được điều ông mong đợi. Các bài thơ "Đất nước", "Nhớ", "Không nói" (ở bản in đầu) tuy có ánh lên những ý mới lạ, song kết cấu khá rời rạc. Có chỗ ý tưởng còn rối rắm, lụn vụn, sức khái quát bị hạn chế. Đó là lý do Nguyễn Đình Thi không thể "thắng" trong cuộc tranh luận. May mà nhà thơ đã sớm có những thao tác chỉnh sửa hợp lý, khiến cho cả ba bài thơ nhắc tới trên, sau khi "đại tu" đã có độ kết dính chặt chẽ, sức chinh phục độc giả vì thế cũng tăng lên.

Nhân đây cũng cần nói thêm: Trong cuốn "Nguyễn Đình Thi - bí mật cuộc đời" (do NXB Văn học ấn hành năm 2008), nhà thơ Hoàng Cầm đã có bài viết phê phán gay gắt việc Nguyễn Đình Thi chỉnh sửa những bài thơ không vần của mình thành ra có vần, mà theo nhận định của Hoàng Cầm: Đó là do Nguyễn Đình Thi phải "lụy" trước sức mạnh cường quyền, chứ thực tâm ông không muốn sửa như thế. Hãy nghe Nguyễn Đình Thi tâm sự (bài "Nhọc nhằn công việc văn chương", sách "Tiểu luận - bút ký", NXB Văn học, 2001): "Khi nghe những nhận xét phê bình mà mình suy nghĩ thấy là đúng, phải có sức mạnh tự vượt qua mình". Sự thực, nếu quan sát kỹ chặng đường thơ của Nguyễn Đình Thi, ta sẽ nhận thấy bài thơ nổi tiếng nhất, được phổ biến rộng rãi nhất của ông là bài "Đất nước". Và bản được đưa vào sách giáo khoa (cũng như được rất nhiều người thuộc hiện nay) chính là bản ông cắt ghép, chỉnh sửa từ hai bài "Sáng mát trong như sáng năm xưa" và bài "Đêm mít tinh" đã được in trong kháng chiến chống Pháp. Nếu nói Nguyễn Đình Thi phải sửa lại bài "Đất nước" vì ông tuân lệnh một ông "cốp" nào đó thì sao sau khi vị này rũ bỏ mọi quyền chức, Nguyễn Đình Thi không cho phục hồi bài thơ theo "nguyên trạng"?

Mặc dù - như một nghịch lý, những bài thơ phổ biến nhất, có sức phổ cập nhất của Nguyễn Đình Thi không phải là những bài thơ... không vần, song các nhà nghiên cứu vẫn không thể không ghi danh ông như một trong những người lót đường cho tiến trình đổi mới văn học, cho sự phát triển của thơ tự do ở Việt Nam. Và, không chỉ là người lót đường, với một thi phẩm xuất sắc như "Đất nước", Nguyễn Đình Thi đã dựng được một cột mốc đáng nhớ cho nền thơ chống Pháp.

Trong một bài viết về thơ Nguyễn Đình Thi in trên báo Giáo dục và thời đại số ra ngày 21/2/1994, sau khi trích dẫn hai câu: "Em đi bên anh tóc xòa bay rối/ Nhỏ nhắn vai em khoác súng trường" (bài "Chia tay trong đêm Hà Nội"), tôi đã có mấy lời nhận xét: "Đó là những hình ảnh thật đẹp: mềm mại và cương nghị. Đó cũng là hình ảnh tiêu biểu của phụ nữ Việt Nam trong thời chiến. Với Nguyễn Đình Thi, "em" vừa là em nhỏ bé, thân thương, vừa là quê hương đất nước đau thương và kiên dũng ngàn đời. Nhà thơ đã bộc bạch ý này không ít lần: Anh yêu em như anh yêu đất nước/ Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần (bài "Đất nước"); Em đứng bên đường/ như quê hương/ Vai áo bạc quàng súng trường  (bài "Lá đỏ"). Cảm hứng về cái bi hùng - có thể nói là đẹp và buồn - đã khiến Nguyễn Đình Thi có được những câu thơ này. Nó góp phần tôn cao phẩm chất con người và tính thâm trọng của chiến tranh". Cũng trong bài viết nói trên, tôi còn phân tích sự dung dị trong lời thơ của Nguyễn Đình Thi. Theo tôi, cái đẹp trong thơ Nguyễn Đình Thi thường không biểu hiện ở sự tô điểm của ngôn ngữ mà phát lộ ra trong cốt cách - cốt cách của tác giả và cốt cách của nhân vật. Để chứng minh việc này, tôi đưa ra hai đoạn trích: "Trăng soi gương mặt nghìn yêu dấu/ Ngày mai hai đứa đã hai nơi/ Hai đầu đất nước trong giông bão/ Cùng chung chiến đấu hai phương trời" (bài "Chia tay trong đêm Hà Nội") và: "Anh yêu em như anh yêu đất nước/ Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần/ Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước/ Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn" (bài "Nhớ"), từ đó đi đến nhận định: "Ý tưởng có mới mẻ gì đâu, ấy vậy mà Nguyễn Đình Thi viết ra nghe vừa cao sang, vừa cảm động, mà người khác viết thì rất dễ thành sáo ngữ, hoặc đại ngôn". Hôm nay, trong bài viết này, tôi xin dẫn chứng thêm một đôi đoạn nữa, như đoạn thơ viết về dũng khí của các chàng trai, cô gái Việt thuở đất nước lầm than: "Đất nghèo nuôi những anh hùng/ Chìm trong máu chảy lại vùng đứng lên/ Đạp quân thù xuống đất đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa" (bài "Bài thơ Hắc Hải"); hay đoạn thơ nói về khát vọng tự do của  đồng bào ta trong kháng chiến chống Pháp: "Xiềng xích chúng bay không khóa được/ Trời đầy chim và đất đầy hoa/ Súng đạn chúng bay không bắn được/ Lòng dân ta yêu nước thương nhà" (bài "Đất nước). Ở đây, chính phẩm cách cao đẹp, chất anh hùng ca của tác giả và những con người mà ông muốn thể hiện đã làm nên sức hút, chất men say cho khổ thơ, bài thơ.

Những bài thơ hay nhất của Nguyễn Đình Thi đều ít nhiều mang chất sử thi, và hầu như đều được gói lại trong những thể thơ tương đối ổn định về vần điệu. Tuy nhiên, xen kẽ với những bài ấy là các bài thơ nhỏ lẻ, không vần, tác giả dùng để ghi lại một đôi cảm xúc, suy nghĩ nảy sinh trong cuộc sống thường nhật của mình, trong đó có những đúc kết không kém phần sâu sắc: "Một niềm vui một nỗi buồn/ Nếu phải giữ một mình suốt đời/ Bạn có thể chết vì nó/ Một điều hiểu một ý nghĩ/ Nếu phải giữ một mình suốt đời/ Có thể làm bạn điên/ Cái gánh nặng/ Nhìn - nghĩ - yêu thương/ Cái hy vọng/ Mỗi tâm hồn cần có tâm hồn khác" (bài "Một niềm vui một nỗi buồn").

Sinh thời, số ấn phẩm thơ được xuất bản của Nguyễn Đình Thi không nhiều (chỉ 5 tập). Và độc giả hầu như cũng chỉ ấn tượng với một số bài cụ thể chứ không ấn tượng với hẳn một tập nào. Bản thân tôi, lần đầu tiếp xúc với tập "Sóng reo" - tập thơ cuối cùng, được xuất bản trước khi Nguyễn Đình Thi mất hơn một năm, tôi đã thực sự bị ám ảnh bởi vẻ đẹp trong ngần, thánh thiện của nó. Có thể nói, với Nguyễn Đình Thi, đây thực sự là "tiếng hát con thiên nga" trước khi chết. Với một tâm thế thiền, nhà thơ đã bình tĩnh tổng kết cuộc đời; bình thản đối mặt với cái chết (mà ông nói một cách hình tượng là "cái bóng ngoài kia đến đợi"). Tim tôi như thắt lại khi đọc mấy dòng thơ mở đầu bài "Mùa thu vàng": "Nào ai biết việc đời đưa rất lạ/ Tôi đến một nơi gió núi xôn xao". Cái "cõi" mà nhà thơ sắp bước vào được ông vẽ ra thật đẹp: "Tôi đi mãi vào ngàn thông rợp bóng/ Như đi sang một cõi khác nào rồi/ Quên hết cả chỉ thấy trời cao rộng/ Và mùa thu im lặng ở quanh tôi".

Trong cái cõi cao rộng, trong lành ấy, mặc dù biết mình đang trơ trọi "một mình trên đất lạ", song nhà thơ không thấy… hoảng, bởi đấy chính là lúc tất cả mọi thứ tạp nham của cuộc đời đã "chìm nhòa hết" trong tâm trí ông, để chỉ còn hiện ra một dòng sông xa vắng, nơi ấy, ông bỗng thấy hiển hiện hình bóng của cô gái nhỏ - kỷ niệm ông không sao quên được của mấy chục năm về trước: "Bóng áo vải thô một cô gái nhỏ/ Hàng trẩu cao đường đỏ lá vàng hoe/ Em tiễn anh lính đi nơi lửa đạn/ Môi run run em chúc có ngày về". Chao ôi, đã nửa thế kỷ trôi qua, sự đời bao đổi thay, vậy mà lòng người thì vẫn không nguôi nhớ về những ảnh hình của một thời kháng chiến gian khổ! Họ đã nói với nhau những gì, đã hẹn với nhau điều gì, để rồi bây giờ, ông lão nhà thơ - cựu binh ở tuổi cận kề cái chết phải nghẹn ngào: "Em gái ơi tôi vẫn đây còn sống/ Còn em bây giờ ở nơi đâu/ Bao nhiêu nước đã trôi bao nhiêu sóng…". Thật không sao đo được hết chiều sâu của tình người, thứ nước thánh giúp ai đó mãi mãi giữ được trong cái hình hài già nua của mình những xúc cảm của thời thanh xuân…Đọc những dòng thơ trên, ta càng thêm yêu kính Con Người biết bao!

Trong tập "Sóng reo" có bài "Lời người xưa": "Soi sáng mà không làm lóa mắt/ Công việc xong nhẹ bước ra đi/ Vì yêu nên có gan dạ/ Vì biết nên không nói gì/ Đối tốt với những người tốt/ Đối tốt với cả những người không tốt/ Không hạ thấp ai không làm nhục ai/ Thắng người khác không bằng tự thắng mình". Thật là những lời "tự răn" thâm thúy. Và phải chăng, đó cũng là lời đúc kết đầy kiêu hãnh về phương châm xử thế của chính tác giả - người mà trong các tác phẩm của mình đã luôn đề cao phẩm giá con người.  

 28/11/2011

P.K.

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.