Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm “lên đồng” với “Xúc xắc mùa thu”

Cách đây 25 năm, khi nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm in tập thơ “Xúc xắc mùa thu” (được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1992), lúc ấy, gia cảnh “bác sĩ hoa súng” khá nghèo túng, lấy đâu tiền mà in thơ khi Cầm phải thức trắng đêm viết kịch bản và viết thêm cả báo để kiếm chút nhuận bút “còm” mua sữa cho con.

Ngày ấy, căn buồng nhỏ của gia đình Cầm nằm tận phía trong cùng một khu nhà ở phố Hàng Bún. Căn buồng chưa được chục mét vuông, lại nằm ngay cạnh nhà vệ sinh tập thể của cả khu dân cư nên cảm hứng thơ của “bác sĩ hoa súng” nhiều khi bị dập tắt bởi mùi xú uế bay sang. Bạn bè đến chơi, ngồi bệt xuống nền nhà nhơm nhớp nước, căn buồng luôn mù mịt khói thuốc lào.

Hình như Cầm phải lấy khói thuốc lào xua đi mùi ô nhiễm của căn buồng chật chội và cứ chốc chốc, tôi lại thấy anh xách xô nước, dội ào ào vào cái chuồng xí tập thể cạnh đấy để cho nó bớt nồng nặc. Những tháng năm ấy, sống khổ như vậy nên tôi thấy thơ anh bớt “véo von vần điệu” và bắt đầu đi vào những dằn vặt của kiếp người. Anh suốt ngày rượu bia và luôn nói về “cái chết của thi ca” và “cái chết của những người lao lực vì phải viết để kiếm sống”.

Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm (trái) và nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.
Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm (trái) và nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.

Một tối đến chơi nhà anh, tôi thấy “bác sĩ hoa súng” đang bị “thơ hành”. Người sặc sụa mùi rượu và mùi thuốc lào, anh ngồi cạnh chai rượu gần cạn đáy, mồm lảm nhảm bài thơ mới viết:

Nếu tôi chết - Hãy tìm tôi nhé
Một trưa nào như trưa mùa Thu
Chiến hào năm thằng lăn ra ngủ
Tôi giật mình - tiếng đại bác ru.
Nếu tôi chết - Hãy tìm tôi nhé
Một tối nào như tối mùa Đông
Chiều thứ bảy quán cà phê vắng
Chủ quán buồn, hỏi: Có buồn không?...

Rồi “bác sĩ hoa súng” bỗng dưng gào tướng lên: “Nếu tôi chết/Tốt hơn, đừng chết!/ Ai sẽ phục sinh Em... trong những tối không chồng” và cười ha hả. Tôi chọc Cầm: “Theo tớ, cậu nên thêm vào một câu thơ cuối nữa thì bài sẽ hoàn chỉnh hơn: “Ai sẽ phục sinh Anh trong những tối thất tình”, hoặc “Ai sẽ phục sinh Thơ trong những đêm vợ bỏ” thì hợp với hoàn cảnh của cậu hơn vì hiện tại nàng thơ đã bỏ đi, để bố con cậu bơ vơ, tội nghiệp trong căn phòng “Gió em vào nếu chán gió lại ra” giống câu thơ định mệnh của cậu!”.

Nghe tôi nói, Cầm hằm hè nhìn tôi như muốn “chan tương đổ mẻ”, cầm chén gõ vào cái chai không côm cốp mấy cái liền, mắt lườm lườm như hai họng súng. Tôi xoa dịu bạn: “Tớ hiểu rồi, ai sẽ phục sinh thơ trong những tối rượu không còn, tớ sẽ đi kiếm cho cậu một chai nút lá chuối chính cống nữa nhá!”.

Cầm liền cười tươi: “Ông ra cuối phố, mua chai rượu quê ở cái quán nước của bà Ba Béo cạnh hàng bà cháo sườn ấy nhé, bảo là mua cho “bác sĩ hoa súng” thì họ mới đưa thứ rượu không pha phách, hiểu chưa?”. Một lúc sau, tôi cầm chai rượu về, đã thấy Hoàng Nhuận Cầm bày la liệt cả chục tập thơ ra nền nhà. Tôi xua tay: “Thôi, không nhắm thơ với rượu nữa, tớ mua mấy cái nem và lạc rang đây rồi”. Cầm trợn mắt quát: “Tối hôm nay, tôi hẹn ông đến đây có việc rất quan trọng đối với thi ca chứ không phải chỉ có chuyện rượu chè lươn khươn, ông hiểu không? Tôi cảm ơn ông vì chai rượu và món đồ nhắm, nhưng bây giờ ta phải vào cuộc ngay”.

Nói rồi “bác sĩ hoa súng” thận trọng giở từng tập thơ để dưới sàn nhà, toàn là thơ của các nhà thơ nổi tiếng như: Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Trúc Thông, Hoàng Hưng, Bế Kiến Quốc, Y Phương, Ý Nhi, Ngô Thế Oanh…

Thơ bày ra nền nhà như một cuộc “duyệt binh” thi ca vậy. Với vẻ mặt đầy quan trọng, Cầm nói khẽ như sợ người ngoài nghe thấy: “Tớ sắp in tập thơ “Xúc xắc mùa thu” nên bây giờ phải nghiên cứu kỹ các “chiêu thức” của từng nhà thơ này, xem họ bố cục mỗi tập thơ của họ ra sao, họ chơi thơ theo kiểu gì, bài thơ nào đưa lên đầu tập để gây ấn tượng, bài thơ nào cho xuống cuối tập để gây bất ngờ.

Mỗi lần in thơ là một trận đánh, cậu hiểu không, phen này tớ quyết chí giành giải thưởng Hội Nhà văn bằng tập thơ sắp in này”. Nói xong Cầm rót rượu ra chén, chúng tôi cụng chén chúc cho tập thơ vào giải thưởng vì “bác sĩ hoa súng” nghèo quá, phải vay nợ lung tung để lấy tiền in thơ, nếu không có tiền giải thưởng, sẽ lỗ to.

Nhâm nhi được vài chén, chợt nhớ ra điều gì không ổn, tôi vỗ vai bạn đánh độp: “Nhưng tập thơ của cậu nghe chừng xái lắm, u ám lắm, có đến gần chục bài thơ toàn viết về chết chóc với giọng chì chiết, bất cần đời. In ra không khéo bị cánh phê bình đập cho xôi hỏng bỏng không, rồi đám “nhìn gà hóa cuốc” vạch bèo xem bọ họ đòi tịch thu thì tập thơ của cậu coi như “xong phim”, phải tính cho kỹ đi”.

Cầm ngó trước, nhìn sau như buôn hàng cấm, cười thì thầm: “Tớ có cách giải mã rồi, tên tập thơ là “Xúc xắc mùa thu” mà viên xúc xắc dùng để chơi bài, chơi bạc, cậu biết rồi. Vậy đây là một “canh bạc thơ” dành cho độc giả mà tớ là nhà cái,  nên tớ luôn ở thế thắng. Không những thế, ở bìa cuối tập thơ tớ còn một chiêu “trấn yểm” có một không hai. Cậu xem đây, tớ sẽ in tấm ảnh chụp lúc tớ vừa mới ra đời, thằng bé Cầm chưa đầy một tuổi, nằm trần truồng, mồm cười toét, chân tay khua khoắng lung tung, chim cò tơ hơ. Tấm ảnh “ngày sinh” này sẽ xua tan mọi u ám, chết chóc, mọi điều không hay về tập thơ này”.

Sau đó, Cầm ghé tai thân mật, đề nghị tôi với tư cách bạn bè viết mấy bài giới thiệu tập thơ “Xúc xắc mùa thu” in trên các báo nhằm “định hướng dư luận văn chương” ở Hà Nội. Tôi cười: “Điều quan trọng là thơ cậu có hay không, có chinh phục được độc giả không? Còn viết giới thiệu các tập thơ là chuyện thường ngày tớ vẫn viết cho các báo. Tớ sẽ ủng hộ cậu, nhưng xem ra trong chuyện thi ca, cậu không điên chút nào cả, cậu tỉnh táo và tinh quái lắm!”.

Hôm sau, tôi nói lại chuyện này với nhà thơ Hữu Việt, người cũng chơi khá thân với “bác sĩ hoa súng”. Hữu Việt cười khì: “Ông này không điên thật đâu, ông ấy điên theo kiểu ăn người thôi!”. Năm đó, tập thơ “Xúc xắc mùa thu” được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam và người ủng hộ Hoàng Nhuận Cầm nhiều nhất trong Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam chính là nhà văn Hữu Mai (bố nhà thơ Hữu Việt).

Có điều, thi ca đối với Hoàng Nhuận Cầm vẫn là một thế giới “Mắt trong leo lẻo nỗi buồn ngàn xưa” nên nó vẫn cứ phải ngâm nga diệu vợi, vẫn cứ phải thánh thót nhạc điệu như ru, như vỗ về để đánh thức người nghe, người đọc. Thứ thơ ấy, khó ai viết giỏi hơn Cầm.

Tôi đồ rằng, thơ đương đại nước ta có hai thi nhân tạm gọi là “vua”. Đó là “vua thơ trẻ em” Trần Đăng Khoa và “vua thơ sinh viên” Hoàng Nhuận Cầm. Đố ai viết thơ trẻ con giỏi như Khoa lúc còn là thần đồng chục tuổi. Và, cũng đố ai viết thơ tuổi sinh viên hay hơn Cầm cách đây ba chục năm. Chợt có hôm, tôi cùng một bạn gái yêu thơ đến nhà Cầm chơi, tôi thấy anh rất trịnh trọng đặt lên sàn nhà một chai rượu trong vắt nút lá chuối, rồi thắp mấy nén nhang thơm (thay vì đốt trầm) để cùng bạn bè thưởng ngoạn những bài thơ mới viết.

Tôi thấy hơi ngài ngại khi Cầm tuyên bố một câu xanh rờn: “Tiêu chí của thơ hiện đại hôm nay là những câu thơ hay phải biết cách “tự sát” để cho phần hồn của câu chữ cháy lên và đóng đinh vào cảm xúc người đọc. Các bạn hãy lắng nghe tôi đọc những bài thơ viết về cái chết đã tập hợp thành một luận đề “Thơ muốn hay phải tự sát”.

Rồi Cầm ngồi xếp chân lại rất thành kính, mắt hướng về phía “cao siêu”, tay cầm nhang vái lia vái lịa như một diễn viên “hầu đồng”, rồi chậm rãi đọc bài thơ “Một mai”: “Một mai chết thật âm thầm/ Mấy nhành cỏ dại khẽ trầm ngâm ru/ Một mai chết hết hận thù/ Mắt chầm chậm khép, tay từ từ xuôi/ Một mai chết thật buồn cười/ Tóc tôi buông xuống như người ngủ mơ/ Một mai chết thật tình cờ/ Thuốc trên tay khói vẫn dờ dật bay/ Một mai chết thật hao gầy/ Xanh xao quần áo tháng ngày thủy tinh/ Một mai chết hết tội tình/ Một mình mình hát, một mình mình nghe...”.

Nhìn Cầm đọc thơ như lên đồng mấy bài thơ liền viết về chết chóc, cô bạn gái yêu thơ ngồi cạnh tôi như bị thôi miên, cứ ôm chặt lấy vai tôi thì thào: “Em sợ quá, em lạnh quá, bạn anh điên mất rồi, ngày nào cũng lảm nhảm như một ông thầy cúng thế kia thì vợ con chịu sao nổi. Em chẳng dám yêu mấy ông làm thơ rồ rại như bọn anh đâu, có lẽ phải bỏ của chạy lấy người thôi!”.

Nhìn “nàng thơ” cứ ôm siết lấy tôi, Cầm trợn mắt: “Chỉ ôm chay thôi nhé, đừng có hôn hít quằn quại là không xong với tôi đâu! Thi ca là thiêng liêng lắm đấy, các bạn đừng có đùa với Thánh Thi, Tửu Thi”. Nói rồi, Cầm lấy chai rượu rót ra cái chén con, làm luôn mấy tợp và vớ chiếc điếu cày, bắn luôn mấy bi liền. Sau đó, anh lại nghiến răng ken két đọc thơ.

Thấy Cầm định đọc tiếp “trường ca” viết về cái chết, tôi xua tay can bạn: “Bài thơ cậu vừa đọc là bài thơ “hay nhất” viết về cái chết trong thơ Việt Nam nửa thế kỷ qua. Thôi tạm dừng ở đây, nàng thơ đi với tôi sắp ngất rồi, để tối mai đọc tiếp”. Thấy tôi dìu “nàng thơ” ra về, Cầm lắc đầu: “Thôi xin bố, chỉ có bố là lãi, tranh thủ lúc người ta đọc thơ để tán tỉnh ve vãn nhau…”, rồi anh cười, nụ cười thật đầm ấm.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.