Nhà thơ Hồ Dzếnh ngỡ hồn mình là mây

Nhà thơ Hồ Dzếnh (1916 - 1991) là một nhân vật cầm bút người Việt gốc Hoa. Ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007. Tác phẩm Hồ Dzếnh thực sự góp thêm hương sắc dân tộc Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Nhà thơ Hồ Dzếnh tên thật Hà Triệu Anh. Cha của ông là người Quảng Đông - Trung Quốc lưu lạc sang Việt Nam và gặp mẹ của ông ở bên bờ sông Ghép thuộc huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Duyên nợ đặc biệt của hai đấng sinh thành, được ông viết lại trong tác phẩm “Ngày gặp gỡ” với lời thú nhận: “người đàn ông gọi đò đêm ấy, sau này là cha tôi. Còn người phụ nữ lái đò đêm ấy, sau này là mẹ tôi”.

Mang hai dòng máu Việt - Hoa, nhưng Hồ Dzếnh chưa một lần trở về quê nội, như ông bộc bạch “Lòng tôi nghe vang một thứ gió âm u của miền sa mạc Mông Cổ, trôi qua Thiểm Tây, Cam Túc, luồn vào những khu rừng không tên của hai tỉnh Lưỡng Quảng, vượt trùng dương sang tôi, như tiếng thở dài não nùng của những linh hồn phiêu bạt”.

Hồ Dzếnh chỉ có “quê ngoại” để dành hết mọi niềm trân trọng, như tên tập thơ đầu tay của ông. Hồ Dzếnh đích thực một nhà thơ gốc Hoa đậm tâm hồn Việt, mà ông bày tỏ: “Hỡi nước Việt Nam, tôi nghiêng xuống lòng Người, trên những luống cày mà hương thơm còn phảng phất, vì tôi đã từng uống nước và nói tiếng của Người, vì tôi đã thề yêu Người trên bậc tuyệt vời của tôn giáo”.

ho denh.jpg -0
Nhà thơ Hồ Dzếnh (1916-1991).

Khi Hồ Dzếnh được 9 tuổi, thì người cha qua đời. Ông lớn lên trong vòng tay của người mẹ lam lũ và trong sự bao dung của nông thôn nghèo khó được ông cảm nhận là “dải đất cần lao, cái dải đất thoát được ra ngoài sự lọc lừa phản trắc, cái dải đất chỉ bị bạc đãi mà không bạc đãi ai bao giờ”.

Năm 15 tuổi, Hồ Dzếnh rời phố huyện “khi vàng đứng bóng im trưa/ tiếng khô lá rụng làm thưa phố phường”, để lên Hà Nội làm thuê cho các hiệu buôn người Hoa. Lận đận mưu sinh nơi đô hội, Hồ Dzếnh không nguôi hoài vọng làng quê đã nuôi nấng thời thơ ấu mà mỗi bận ngoái lại thấy mình bâng khuâng. Làng quê ấy có những số phận gieo neo được ông miêu tả bằng tất cả sự chân thành xót thương trong tập truyện “Chân trời cũ”. Làng quê ấy cũng cất giữ mối tình đầu của Hồ Dzếnh, đó là người con gái tên Hiền được ông gọi thảng thốt “Bong bóng tàn theo mộng/ Nhân duyên dần hết mùa/ Ai như Hiền áo trắng/ Loáng thoáng qua hơi mưa”.

Một lần về Thanh Hóa thăm gia đình, biết tin cô Hiền cũng đã lên Hà Nội, trái tim Hồ Dzếnh xôn xao nhắn gửi “Sáng nay Hà Nội giao mùa/ Hồ Thu. Tóc liễu. Tháp Rùa lung linh/ Nước non đây nghĩa đây tình/ Đọc thơ em sẽ thấy mình trong thơ”. Sau nhiều nỗ lực tìm kiếm, Hồ Dzếnh cũng gặp được cô Hiền. Thế nhưng, cô Hiền không còn là thôn nữ thuở nào nữa: “Con người tôi gọi bằng em/ Nhớ tôi nhưng cũng thành duyên lâu rồi/ Mộng tàn, nước chảy, mây trôi/ Tôi lui hồn lại, nhưng đời đã xa”. Ít lâu sau, cô Hiền lấy chồng. Mối tình đầu câm lặng không một kỷ niệm nào rõ hình rõ dáng với cô Hiền, đã tạo cảm hứng cho Hồ Dzếnh có bài thơ “Ngập ngừng” được nhiều thế hệ ưa thích: “Tình mất vui khi đã vẹn câu thề/ Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở/ Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ/ Cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa”.

Sau khi chia biệt cô Hiền nhiều day dứt “Bây giờ tôi đã lớn/ Ít lúc trông trời mưa/ Như tôi, Hiền cũng lớn/ Má đỏ không như xưa”, Hồ Dzếnh tiếp tục viết về những cuộc đời hẩm hiu và bất hạnh. Những tác phẩm giàu trắc ẩn của ông đã làm rung động một người con gái khác ở Thanh Hóa, có họ tên đầy đủ là Nguyễn Thị Huyền Nhân. Xuất thân gia đình giàu có, nhưng mẹ mất sớm và phải chịu cảnh dì ghẻ con riêng, Nguyễn Thị Huyền Nhân đồng điệu với tác phẩm của Hồ Dzếnh. Trong “Cuốn sách không tên” xuất bản sau khi Hồ Dzếnh qua đời, công chúng có được chút mường tượng về Nguyễn Thị Huyền Nhân “thiếu tình thương ruột thịt, người con gái mười hai tuổi đã sắp đặt cho đời mình những phương tiện sống cần thiết: không luồn lụy ai, không vay mượn ai, bằng lòng nhận lấy hoàn cảnh hiện tại”.

Tuần nào, Nguyễn Thị Huyền Nhân cũng chờ đợi tờ báo quen thuộc để đọc bài của Hồ Dzếnh. Khi phát hiện mấy số báo liền không có bút danh Hồ Dzếnh, Nguyễn Thị Huyền Nhân đoán rằng tác giả mình mến mộ đã xảy ra sự cố phiền muộn. Cô vội gom hết 800 đồng dành dụm, lên Hà Nội tìm thăm Hồ Dzếnh.

Trước tình cảm của thiếu nữ nhỏ hơn mình 4 tuổi, Hồ Dzếnh rất xao xuyến. Khác những câu thơ tê tái viết cho cô Hiền, nhà thơ Hồ Dzếnh có những dòng âu yếm viết cho Nguyễn Thị Huyền Nhân. Dẫu có chút đắn đo “Yêu là khó nói cho xuôi/ Bởi ai hiểu được sao trời lại xanh”, thì Hồ Dzếnh vẫn xác định “Mây nước vô tình, lãnh đạm trôi/ Tình không giống nước, tình không xuôi”.

Tuy nhiên, quan hệ giữa Hồ Dzếnh và Nguyễn Thị Huyền Nhân chỉ ở mức lưng chừng, theo đánh giá của dăm người bạn thân thiết với ông bấy giờ là nhà văn Thanh Châu (1912-2007) hoặc nhà văn Kim Lân (1920-2007). Nguyên nhân có thể do Hồ Dzếnh mặc cảm lớn lên trong gia cảnh sa sút “đời tình ái của tôi, một cuộc đời chỉ toàn thấy những dang dở, vì lẽ tôi không biết giữ trong tay những hạnh phúc mau biến”. Quan trọng hơn, lúc ấy Hồ Dzếnh tuổi đôi mươi vẫn hào hứng lang bạt giang hồ khắp Đông Dương để trải nghiệm: “Tôi là người lữ khách/ Màu chiều khó làm khuây/ Ngỡ lòng mình là rừng/ Ngỡ hồn mình là mây/ Nhớ nhà châm điếu thuốc/ Khói huyền bay lên cây”.

Khi Cách mạng tháng Tám diễn ra, Hồ Dzếnh quay lại miền Bắc và xuất bản tập thơ “Hoa xuân đất Việt” với cảm hứng chào đón tương lai cho những mảnh đời triền miên tăm tối chung quanh ông: “Mẹ tôi sống lặng trong làng nhỏ/ Đâu biết thời gian đổi mới rồi/ Lòng vẫn đau buồn thiên vạn cổ/ Nào hay non nước đã reo vui”.

Đi theo kháng chiến về Thanh Hóa, như một sự sắp xếp của định mệnh, Hồ Dzếnh trùng phùng Nguyễn Thị Huyền Nhân, người con gái đã đối đãi thật ân cần những ngày ông là một văn sĩ nghèo tạm cư Hà Nội. Hồ Dzếnh ngỡ ngàng vì cố nhân vẫn chờ đợi mình, vẫn mong ngóng mình.

Đầu năm 1947, Hồ Dzếnh và Nguyễn Thị Huyền Nhân cưới nhau, rồi hai đứa con trai lần lượt ra đời. Oái oăm thay, hạnh phúc của họ thật ngắn ngủi. Trận dịch tả năm 1950 cướp đi đứa con trai lớn, rồi cướp đi người vợ của Hồ Dzếnh.

Trong “Cuốn sách không tên”, Hồ Dzếnh đã mượn lời đứa con trai còn sống để chia sẻ khoảnh khắc hiền thê mới 30 tuổi phải vĩnh biệt dương gian: “Dẫu là nhà văn như cha tôi, không khi nào người biết đến tất cả ý nghĩa của câu trối trăng từ miệng vợ: “Em yêu anh từ ngày em biết thở, cho đến lúc nhắm mắt lìa đời. Em không có gì ân hận cả”. Mẹ tôi đã tinh hơn một tư tưởng nghệ thuật, đẹp hơn một bài thơ, quý hơn những cái gì đáng quý nhất. Vì sao mẹ tôi nghĩ được như vậy? Bởi vì người thành thật, đã chịu đau khổ, và biết hưởng tình yêu”.

nhà thơ hồ zếnh và vợ bà hồng nhật cùng các con.jpg -1
Nhà thơ Hồ Zếnh và vợ (bà Hồng Nhật) cùng các con.

Chôn cất vợ xong, Hồ Dzếnh ôm đứa con trai Hà Chính được 5 tháng tuổi, quay về Hà Nội. Những ngày gà trống nuôi con cơ cực trên đất Thăng Long, Hồ Dzếnh hạnh ngộ bà Hồng Nhật, người vợ của đồng nghiệp Trần Trung Phương mà ông từng quen biết khi cộng tác nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Bà Hồng Nhật là người phụ nữ đảm đang và tháo vát, nhưng nhiều gian truân. Người chồng đầu tiên của bà Hồng Nhật là ông Trần Trung Phương, một tác giả chuyên viết cho thiếu nhi.

Vì hoạt động cách mạng, Trần Trung Phương bị Pháp bắt giam và tra tấn, sau khi được thả ra thì ông qua đời ngày 7/6/1945. Chồng mất, bà Hồng Nhật góa bụa lúc 25 tuổi và đứa con trai Trung Cường mới sinh được 6 tháng. Có những tương đồng bất hạnh hôn nhân, nhà thơ Hồ Dzếnh và bà Hồng Nhật quan tâm và thấu hiểu lẫn nhau. Hồ Dzếnh giúp bà Hồng Nhật tuyển chọn di cảo Trần Trung Phương để in tập thơ “Mấy vần tươi sáng”, như một chút lòng thành cho người quá cố.

Năm 1951, Hồ Dzếnh đưa con trai Hà Chính vào Sài Gòn, và cặm cụi làm báo để nuôi con. Thế nhưng, cuối năm 1953, hai cha con ông lại bay về Hà Nội. Nhà văn Nguyễn Khải (1930-2008) là cháu họ của bà Hồng Nhật, hé lộ: “Ông Hồ Dzếnh trở về, vì không thể sống xa Hà Nội và không thể sống xa cô tôi. Xa Hà Nội thì mất văn chương, xa cô tôi thì mất mọi niềm vui để muốn sống”. Mùng 2 Tết Giáp Ngọ 1954, nhà thơ Hồ Dzếnh và bà Hồng Nhật làm đám cưới. Tại hôn lễ đơn sơ của họ, có một vế đối đưa ra là “vợ góa nhà văn lấy nhà văn góa vợ”, nhưng bạn bè và người thân đều không ai tìm được vế đối lại.

Sau năm 1954, vợ chồng Hồ Dzếnh - Hồng Nhật chuyển nhà từ địa chỉ 200A Phố Huế về cư ngụ tại số 80 Hòa Mã. Bà Hồng Nhật vẫn mở tiệm sách Bình Minh để có kế sinh nhai, còn Hồ Dzếnh tham gia sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam vào năm 1957, sau đó công tác ở Nhà máy xe lửa Gia Lâm cho đến khi nghỉ hưu. Cuộc hôn nhân thứ hai của Hồ Dzếnh rất đầm ấm. Họ không phân biệt con ông hay con bà. Họ đối xử bình đẳng với hai đứa con trai, con trai lớn Trung Cường là nghệ sĩ hòa tấu và con trai thứ Hà Chính là giáo viên dạy Toán. Ông bà nương tựa nhau phu thê tương kính gần bốn thập niên.

Ngày 13/8/1991, nhà thơ Hồ Dzếnh vĩnh biệt nhân gian ở tuổi 75. Lúc hấp hối trên giường, ông nắm chặt tay bà Hồng Nhật, thều thào hai tiếng “mình ơi”. Bài thơ cuối cùng của Hồ Dzếnh được tìm thấy sau khi ông đi xa, là những lời quyến luyến sắt son dành cho bà Hồng Nhật: “Mình vừa là chị là em/ Tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời/ Mai này tới phút chia đôi/ Hai ta, ai sẽ là người tiễn nhau/ Xót mình đã lắm thương đau/ Tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình/ Cuộc đời đâu phải phù sinh/ Nước non chan chứa nghĩa tình, mình ơi”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.