Nguyễn Việt Chiến: Những câu thơ làm một cuộc ra đi

Tập thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến vừa nhận giải thưởng Tôn vinh của Hội Nhà văn Việt Nam cho các tác phẩm về đề tài biên giới hải đảo giai đoạn 1975 đến nay. Chúng tôi nhân dịp này muốn nhìn lại một hành trình thi ca của ông.

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến sinh năm 1952 tại Chàng Sơn, Thạch Thất, Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội. Ông vào bộ đội năm 1970, xuất ngũ năm 1974 rồi tốt nghiệp đại học ngành địa chất. Từ năm 1990 chuyển sang viết báo, làm phóng viên tại báo Thanh niên từ năm 1992. 

Kể từ 1992 đến nay, Nguyễn Việt Chiến đã xuất bản tất cả 9 tập thơ: “Mưa lúc không giờ”, “Ngọn sóng thời gian”, “Cỏ trên đất”, “Những con ngựa đêm”, “Trăng và thơ đọc chậm”, “Hoa hồng không vỡ”, “Tổ quốc nhìn từ biển”, “Trường ca Biển” và tập gần đây nhất “Thi giác và ảo giác” (2020). 

Cũng vừa qua, tập thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến vừa nhận giải thưởng Tôn vinh của Hội Nhà văn Việt Nam cho các tác phẩm về đề tài biên giới hải đảo giai đoạn 1975 đến nay. Chúng tôi nhân dịp này muốn nhìn lại một hành trình thi ca của ông.

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.

Người con của xứ Đoài

Quê hương xứ Đoài có thể nói đã sản sinh ra rất nhiều nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ XX như thi sĩ Quang Dũng, thi sĩ Ngô Quân Miện, thi sĩ Trần Hòa Bình. Và nguồn thơ của Nguyễn Việt Chiến cũng cất lên bắt đầu từ quê hương xứ Đoài: “Ta của xứ Đoài ta của em/ Đồng đang cỏ mật, hồ đang sen/ Chiều đang sông Đáy mùa lên bãi/ Nắng đã Ba Vì, mây Tản Viên/ Ta học mùa xuân cách tặng hoa/ Đến nở cùng em dưới mái nhà/ Hồn quê mộc mạc trong hoa cỏ/ Ta bờ bến cũ em phù sa” (Ta của xứ Đoài). 

Điệp ngữ “ta học” còn được lặp lại trong mấy khổ thơ kế tiếp sau đó: “Ta học sông quê cách yêu bờ”…”Ta học cô đơn cách giãi bày”. Thi sĩ trở về với quê hương và như muốn thu mình lại thật nhỏ bé như một đứa trẻ giữa vòng tay quê. Quê nhà vì thế như ôm trùm và chờ che cho tâm hồn thi sĩ.

Quê hương luôn gắn với bóng dáng mẹ hiền. Nguyễn Việt Chiến có thật nhiều câu thơ, bài thơ xúc động về mẹ. Người mẹ trong thơ Nguyễn Việt Chiến là người mẹ luôn ở trong tâm trạng đợi chờ, mong ngóng những đứa con trở về: “Rồi mẹ bảo: có ngôi đền chỉ làm bằng nước mắt/ Rồi mẹ bảo: có ngôi đền chỉ xây bằng đức tin/ Rồi mẹ bảo: có ngôi đền làm bằng lời cầu nguyện/ Rồi mẹ bảo: chiều xuống rồi về nhà đi con” (Những ngôi chùa trong đêm). 

Nhưng những đứa con chẳng thể quay về được nữa, thì mẹ lặng lẽ giấu nỗi đau vào lòng: “Mẹ đã khóc lúc rời ga Hàng Cỏ/ Những đoàn tàu hun hút tuổi hai mươi/ Một thế hệ hồn nhiên không biết chết/ Chưa từng yêu khi gục ngã cuối trời” (Thời đất nước gian lao). 

Và khi mẹ cô đơn ngồi với chiếc áo nâu sồng, với tiếng kinh tiếng mõ thì mái nhà của mẹ trở thành một không gian của phật tính bao dung, từ bi, thanh khiết, linh thiêng: “Đêm nay ba nén hương tàn/ Nước trong một chén, kinh ngàn lời ru/ Mẹ tôi vạt áo nâu xưa/ Tay thành kính chắp, khói mờ dương gian” (Mẹ tôi vạt áo nâu xưa).

Phố và tình yêu

Xuất phát từ không gian làng quê, Nguyễn Việt Chiến bắt đầu xê dịch, di chuyển ra phố phường. Là một người say mê hội họa, con mắt nhìn phố của Nguyễn Việt Chiến đã tạo nên những điểm thật đặc biệt. Phố trong thơ anh là con phố đi vào những bức tranh, rồi lại từ những bức tranh ấy mà bước ra cuộc đời: “Mưa bay chéo mặt tranh mờ xóa/ Cả vòm trời loang chảy màu sơn/ Những ngôi nhà như đang trượt ngã/ Gọi dìu nhau ở phía bên đường” (Mưa phố vào tranh). 

Nguyễn Việt Chiến đã viết đến hàng chục bài thơ về phố, được đánh số theo thứ tự từ 1 đến 10 (trong tập “Những con ngựa đêm”). Nhưng có lẽ bài nổi tiếng hơn cả trong số ấy là bài Phố 2, sau được phát triển thành bài thơ mang tên “Phố Phái”. 

Giọng thơ bảy chữ mang âm hưởng cổ điển gợi được cái bơ vơ xao xác mà thiết tha trong hồn người: “Mùa đông chim sẻ phố bay rồi/ Phố Phái tần ngần phố nhớ ai?/ Sương bay vào tóc sương chưa bạc/ Đã trắng mây khua những dặm trời/ Lá rụng mùa ơi! Rụng nốt đi/ Trên bàn tay vắng dấu chân khuya/ Tôi nghe hơi phố không còn ấm/ Mà lửa đèn đêm thức nhớ gì”. 

Trên những con phố ấy, Nguyễn Việt Chiến đã từng có những mối tình thơ mộng. Thơ mộng mà rất đỗi ngây thơ bởi chàng thi sĩ tin rằng có người con gái sẵn sàng ngủ một tuần để mơ về mình. Nhưng cũng chính vì niềm tin đó mà một bài thơ trong veo như cổ tích mới được ra đời: “Cô bé ấy có một lần nói khẽ/ Anh tin không, em sẽ ngủ một tuần/ Anh đừng đến và đừng buồn anh nhé/ Em ngủ rồi còn ai nữa mà mong/ Em ngủ rồi, em có dậy nữa không/ Mùa thu tiễn anh qua miền phố vắng/ Mỏng manh quá lời yêu không đủ ấm/ Những đam mê ngày ấy ngỡ xa rồi” (Mùa thu không trở lại). 

Sau này, cái dở dang không trọn vẹn trong thơ tình Nguyễn Việt Chiến được đẩy lên thành bi kịch của những chia lìa tan vỡ: “Tiếng gì trên cỏ vừa rơi/ Hình như phía ấy có người bỏ đi/ Đạp lên cả ánh trăng khuya/ Tiếng trăng như lá vỡ nghe thật buồn” (Tiếng trăng). Và con người chợt hiểu ra rằng, mình chỉ là cát bụi trong đêm của tình yêu: “Cát còn bay trắng bến sông/ Người còn đi trắng mùa mong ước này/ Tôi cầm hạt cát trên tay/ Đêm không còn ấm như ngày có em” (Cát đợi).

Bìa tập thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.
Bìa tập thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.

Dòng thơ sử thi hào hùng

Nhìn lại hành trình thơ của Nguyễn Việt Chiến, một trong những mảng nội dung quan trọng làm nên tên tuổi thi ca của ông, chính là những bài thơ công dân, những bài thơ về Tổ quốc, người lính, chiến tranh. Có lẽ Nguyễn Việt Chiến là thi sĩ đương đại có nhiều bài thơ với nhan đề Tổ quốc nhất: “Tổ quốc nhìn từ biển”, “Tổ quốc là tiếng mẹ”, “Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra”, “Mẹ - Tổ quốc”, “Tổ quốc nơi biên thùy”, “Tổ quốc bên bờ biển cả”, “Thời đất nước gian lao”, “Ta như cỏ trên ngực trần đất nước”... 

Trong số những bài kể trên, “Tổ quốc nhìn từ biển” là bài thơ nổi tiếng hơn cả, chinh phục người đọc bởi âm hưởng hào hùng, tráng lệ. Từng câu thơ, khổ thơ như muôn con sóng nơi trùng khơi vỗ mãi vào hồn người: “Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển/ Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng/ Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa/ Trong hồn người có ngọn sóng nào không…/ Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát/ Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời/ Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất/ Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi”. 

Ở một bài thơ khác, Nguyễn Việt Chiến thẳng thắn bày tỏ sự lên án chiến tranh. Điệp ngữ “đại bác nổ” lặp lại tới sáu lần trong câu thơ mở đầu của 6 khổ thơ liên tiếp. Sự tàn khốc hủy diệt của chiến tranh đã gây nên bao đau thương, nhưng không vì thế mà chúng ta ngại ngần đối mặt. 

Sự dũng cảm quật cường, tình yêu quê hương của con người đã khiến cho những thế lực hủy diệt kinh khủng nhất cũng phải khuất phục: “Và đại bác xin cúi đầu tưởng nhớ/ Những người con bất diệt đã quên mình/ Vì xứ sở ngàn đời mây trắng/ Vẫn ngàn đời bất diệt giữa cỏ xanh” (Về khổ đau và đại bác). 

Đưa được đại bác vào ngôn ngữ thi ca, trước Nguyễn Việt Chiến có Trịnh Công Sơn: “Đại bác đêm đêm dội về thành phố/ Người phu quét đường dừng chổi lắng nghe” (Đại bác ru đêm); sau Nguyễn Việt Chiến có Hoàng Nhuận Cầm: “Và bài ca không cần hát ra lời/ Tiếng chim hót ngay trên nòng đại bác” (Cho phượng năm xưa), nhưng để nâng đại bác lên thành một hình tượng có chiều sâu và gây nhiều ám ảnh thì chỉ có Nguyễn Việt Chiến.

Miệt mài với thi ca

Bắt đầu làm thơ và có thơ đăng báo từ đầu những thập niên 80 của thế kỷ trước, Nguyễn Việt Chiến đã có một hành trình gần 40 năm gắn bó với thi ca. Và tập thơ dày dặn anh vừa trình làng gần đây là một minh chứng rõ ràng cho sự mê đắm và miệt mài sáng tạo. 119 bài thơ của tập “Thi giác và ảo giác” là những bài thơ mới nhất của anh và đều có nhan đề chỉ bằng một từ: Phật, Tên, Thở, Nặn, Xưa, Tìm, Hạc, Mơ… 

Đề tài trong thơ Nguyễn Việt Chiến vẫn rất rộng mở, từ thiên nhiên đến tình yêu, từ quê hương tới chiến tranh, người lính, thân phận con người, các đề tài liên quan đến văn hóa, lịch sử, trách nhiệm công dân, ý thức vì cộng đồng… Nhưng tôi đặc biệt chú ý đến hai bài thơ mang tựa đề “Thơ 1” và “Thơ 2”. 

Nói một cách khác, bản thân công việc làm thơ đã trở thành một đề tài của anh, để qua đó Nguyễn Việt Chiến bày tỏ một tuyên ngôn của mình, một quan điểm thẩm mỹ và sáng tạo: “Thật ra. Thơ sẽ là gì?/ Thơ là ngọn khói vô vi bên chùa/  Mái chùa chợt hửng nắng mưa/ Thơ là ngọn nắng. Người xưa kiếm tìm…/ Thật lòng. Tới cõi khổ đau/ Thơ là ngọn nến nhiệm màu xót xa/ Cháy một mình. Cứu rỗi ta/ Cháy từng chữ cháy sáng ra kiếp người” (Thơ 2). 

Và thơ, theo Nguyễn Việt Chiến luôn cần một sự dấn thân để đồng hành cùng đất nước và số phận mỗi con người: “Thưa mẹ/ Hôm nay bàn chuyện thơ đi về đâu/ trong con vẫn còn một chuyến tàu/ Ba mươi ba năm trước chưa trở về/ Phải chăng vì thế/ Những câu thơ bây giờ/ Vẫn phải lên đường làm một cuộc ra đi” (Ga).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.