Nguyễn Huy Tưởng: Tìm đến một mê cung

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960) qua đời ở tuổi 48, trong lúc ngòi bút đang sung sức, tài năng phát triển đến độ sắc sảo, nhuần nhị. Tôi không có may mắn được quen biết Nguyễn Huy Tưởng khi ông còn sống, nhưng luôn quý mến, trân trọng tài năng của ông...

Khi tác phẩm "Sống mãi với thủ đô" của Nguyễn Huy Tưởng được xuất bản, tôi viết bài giới thiệu trên Báo Nhân Dân về giá trị của cuốn sách. Sau khi tác phẩm "Nam Cao, nhà văn hiện thực xuất sắc" của tôi được ra mắt bạn đọc (năm 1962), tôi có ý định nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Tôi trình bày ý định ấy với Giáo sư Phan Cự Đệ khi ông đã viết xong công trình về Ngô Tất Tố (cùng với nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Đàn). Giáo sư Đệ đồng ý và chúng tôi bắt tay vào việc. Tôi và anh Đệ đến thăm bà quả phụ Nguyễn Huy Tưởng và bày tỏ ý tưởng của chúng tôi. Bà Nguyễn Huy Tưởng hoan nghênh và theo lời hẹn, bà cho chúng tôi đến nhà đọc một số tư liệu, ghi chép của nhà văn. Đó là những bản thảo chưa in, hàng chồng nhật ký được ghi chép theo năm tháng ngay từ khi tác giả còn rất trẻ, với nét chữ ngay ngắn, đều đặn. Tôi và anh Đệ đọc say mê hết cả buổi sáng và xin hẹn đến ngày hôm sau. Tôi tìm thấy trong đống sách còn bề bộn tập bản thảo tác phẩm "Cột đồng Mã Viện" chưa in, một vở kịch ngắn nhưng là điểm sáng về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng. Chúng tôi xin phép bà Tưởng xếp riêng những tập nhật ký thành một chồng, phần đã đọc và phần chưa đọc và để lại ngăn nắp trong tủ. Ngày hôm sau đến thì bà Nguyễn Huy Tưởng nói với chúng tôi: "Xin các anh thôi đừng đọc nhật ký của nhà tôi. Đó toàn là những chuyện riêng tư, chuyện gia đình, các anh đọc những tư liệu khác vậy". Chúng tôi nói: "Nghiên cứu cuộc đời một nhà văn cũng phải hiểu cái chung và cái riêng. Chúng tôi tôn trọng cuộc sống riêng và qua đó để hiểu, để đánh giá, ca ngợi phẩm chất và nhân cách của người viết". Bà Tưởng vẫn nói: "Thôi, xin các anh đừng đọc vào phần nhật ký". Thực ra nhật ký Nguyễn Huy Tưởng có những đặc điểm hết sức phong phú, vừa mang những nét riêng, vừa gắn bó với cuộc đời chung. Sau này, anh Nguyễn Huy Thắng, con trai của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã chọn lọc và giới thiệu chu đáo nhật ký của tác giả, một phần quan trọng trong sự nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng. Từ nhà bà Tưởng ra về, chúng tôi băn khoăn về sự thay đổi ý kiến đột ngột của bà. Sau này được biết là khi chúng tôi ra về thì một nhà văn cao niên, bạn của Nguyễn Huy Tưởng đến chơi, thấy sách vở có phần bề bộn nên hỏi bà Tưởng. Bà kể lại việc hai chúng tôi tìm tài liệu, đọc nhật ký. Ông liền bảo: "Đừng cho bọn họ đọc".

Thôi đành vậy, chúng tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu về tác giả Nguyễn Huy Tưởng. Anh Đệ và tôi phân công nhau: Anh Đệ viết về thời kỳ trước Cách mạng của Nguyễn Huy Tưởng và tôi viết về chặng đường sau Cách mạng. Tập sách được biên tập nhanh chóng. Hai phần viết cũng dễ hòa hợp, gắn bó và năm 1966, tập sách được Nhà xuất bản Văn học cho ấn hành. Tính đến nay đã gần năm mươi năm. Chắc chắn nếu tập sách được viết lại, được bổ sung sẽ có thêm nhiều ý kiến mới phong phú hơn, phù hợp với tài năng và những đóng góp xuất sắc của tác giả.

Một cảnh trong vở "Vũ Như Tô" của Nguyễn Huy Tưởng do Nhà hát Tuổi trẻ dàn dựng.
Một cảnh trong vở "Vũ Như Tô" của Nguyễn Huy Tưởng do Nhà hát Tuổi trẻ dàn dựng.

Trong những nhà văn xuất hiện vào thời kỳ trước Cách mạng, Huy Cận, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng đều có trình độ Tây học, là những trí thức, nghệ sĩ có tài. Nguyễn Huy Tưởng không có một miền quê cụ thể, đất ngoại thành như Tô Hoài; xóm thợ Hải Phòng như Nguyên Hồng; phố nhỏ gần gũi của Bắc Ninh như Kim Lân. Cảm hứng của Nguyễn Huy Tưởng dường như không bắt đầu từ cái cụ thể mà từ những trang sử của dân tộc. "Quê hương" của Nguyễn Huy Tưởng, nơi tạo nguồn cảm hứng cho những trang viết chính là lịch sử của dân tộc. Tinh thần yêu nước được thức dậy từ những trang sử của một dân tộc kiên cường, suốt hàng ngàn năm lịch sử không chịu khuất phục ngoại xâm. Nếu như ở thời kỳ đó, viết sử người ta thường chú ý đến những tính cách nhân vật, đặc biệt không hẳn là chính diện như Trần Thủ Độ, Nguyễn Hữu Chỉnh, không hẳn là đoan chính như Bà Chúa Chè thì Nguyễn Huy Tưởng lại chọn những nhân vật có tính chất chính thống: Nếu là vua quan phải có tài năng đức độ, nếu là cung phi cung nữ phải có đạo đức nết na. Tuy nhiên, những trang viết của ông không phải là dòng nước xuôi chiều phẳng lặng mà luôn cuộn lên trong sóng dữ. Triều đình không phải là chốn bình an, nhất là khi có ngoại bang xâm lược. Nguyễn Huy Tưởng chủ yếu muốn nói lên lòng yêu nước của nhân dân. Tác giả cảm thấy tự hào trước lịch sử của dân tộc. Các tác phẩm lịch sử như "Vũ Như Tô", "Đêm hội Long Trì", "An Tư", "Cột đồng Mã Viện" đều là những câu chuyện, sự kiện của Đông Đô - Thăng Long…

Tác phẩm "Vũ Như Tô" được viết ra trong thời kỳ đất nước bị Nhật, Pháp xâm chiếm. Văn hóa rơi vào tình trạng bế tắc, tăm tối, không tìm được lối ra. Giữa lúc này Đề cương Văn hóa của Đảng xuất hiện đã đem lại những nhận thức mới, sức sống mới cho văn nghệ sĩ. Nguyễn Huy Tưởng là một trong những thành viên của Văn hóa Cứu quốc cùng với Tô Hoài, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Như Phong. Tác giả cũng như các nhà văn đồng nghiệp hiểu rõ trách nhiệm của người cầm bút trong thời điểm lịch sử đặc biệt này. Nguyễn Huy Tưởng đã viết "Vũ Như Tô", chọn lựa hình ảnh một nghệ sĩ tài hoa, một kiến trúc sư không chấp nhận cộng tác với triều đình của hôn quân bạo chúa để xây dựng một Cửu Trùng đài nơi vua chúa hoan lạc. Thái độ ấy là đúng, nhưng rồi Đan Thiềm - một cung nữ có nhan sắc và nhiều trải nghiệm - đã khuyên Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài. Chuyện chơi bời hoan lạc của vua chúa chỉ là nhất thời, còn Cửu Trùng đài là vĩnh viễn, là niềm tự hào của dân tộc. Nhân dân sẽ biết ơn người nghệ sĩ. Lời khuyên khéo léo ấy của Đan Thiềm đã đẩy Vũ Như Tô vào một con đường phức tạp và dẫn đến sự kết thúc bi thảm. Xây dựng Cửu Trùng đài ngay từ buổi đầu đã rất tốn kém, nhân dân đau khổ, tốn nhiều công sức, thậm chí chết chóc, oán hờn dâng lên từ quần chúng và dẫn đến thảm kịch. Nguyễn Huy Tưởng muốn đặt vấn đề với người nghệ sĩ là phải biết chọn lựa. Tài năng phục vụ cho danh vọng cá nhân hay cho lợi ích của công chúng? Thước đo người giám định chính là nhân dân trong thời điểm hiện tại. Có tài năng nhưng đi không đúng hướng sẽ dẫn đến bi kịch. Hình tượng Vũ Như Tô được miêu tả có lúc lồng lộng cao đẹp nhưng khi trái chiều lịch sử, lại trở thành nạn nhân tan nát số phận. Vở kịch "Vũ Như Tô" là một đề tài lịch sử nhưng lại mang ý nghĩa hiện tại. Tác giả xử lý rất có tài năng về diễn biến của xung đột kịch, về tạo hình nhân vật, về việc cài sâu những triết lý tiềm ẩn trong hành động và ngôn từ của các nhân vật. Sinh thời, nhà văn Nguyễn Đình Thi từng cho rằng: "Vũ Như Tô là tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Huy Tưởng trước Cách mạng". Nhà văn Kim Lân cũng nhận xét: "Với Nguyễn Huy Tưởng, tất cả có thể qua đi nhưng nổi bật lên và còn lại là Vũ Như Tô".

Trong các tác phẩm về đề tài lịch sử, "Đêm hội Long Trì" cũng gây một ấn tượng đặc biệt. Ở đây, tác giả khai thác những chuyện của lịch sử, tội ác của bọn hôn quân bạo chúa và khung cảnh một thời của sinh hoạt cung đình. Để thực hiện tác phẩm này, Nguyễn Huy Tưởng đã phải một phần dựa vào sự thực của lịch sử và phần quan trọng là những suy nghĩ, cảm xúc, tưởng tượng, chủ quan. Do đó phong cách chủ yếu là phong cách lãng mạn. Chất lãng mạn của ngòi bút Nguyễn Huy Tưởng có khả năng tạo nên những bức tranh hoành tráng về đề tài lịch sử, tái hiện sinh hoạt ở cung đình đan xen giữa những yếu tố truyền thống dễ chấp nhận và những mặt tiêu cực của lối sống xa hoa, đan xen giữa những người tốt, quan lại liêm chính với những kẻ gian thần độc ác, xảo trá. "Đêm hội Long Trì" là một đêm hội nhiều màu sắc của cung đình. Nguyễn Huy Tưởng đã miêu tả sinh động không khí của một đêm hội văn hóa, có đàn sáo, có thi ca, có những người đẹp và văn nhân gặp gỡ, giao duyên. Tuy nhiên bức tranh xã hội tưởng như thanh bình, êm đẹp đó lại chứa đựng những mâu thuẫn nghịch cảnh mà nạn nhân không ai khác lại là những nhân vật yếu đuối, không có khả năng tự bảo vệ mình và bị xô đẩy trước cuộc đời.

Tác phẩm lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng có chất hùng tráng của những nhân vật anh hùng, của quần chúng yêu nước; có chất huy hoàng của những bức tranh hoành tráng; có cái đẹp thơ mộng của những cô gái quyền quý, vô tư trước cuộc đời và nhiều mơ ước... Tất cả góp phần tạo nên một mê cung hấp dẫn người đọc. Trong đó, "Vũ Như Tô" được xem là vở kịch thành công nhất của Nguyễn Huy Tưởng cũng như với những tác phẩm lịch sử trong giai đoạn này

Hà Minh Đức

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.