Người phá bỏ hàng rào giới tính trong nghiên cứu khoa học

Khi Kono Yasui nhận tấm bằng Tiến sĩ vào năm 1927 tại Đại học hoàng gia Tokyo (TIU), bà nhớ lại: "Vây quanh tôi khi đó là nhiều bạn bè chúc mừng tôi, không gì có thể cản trở tôi, chỉ đơn giản tôi phấn đấu đi theo con đường mình đã chọn".

Ở tuổi 47, bà Yasui đã trở thành người phụ nữ Nhật Bản đầu tiên giành được học vị Tiến sĩ về khoa học.

Việc giáo dục trẻ gái và phụ nữ ở Nhật Bản từng khá bất công: các nữ sinh học khác trường so với nam sinh, và việc học hành của họ chủ yếu là để tạo ra ryôsai kenbo: vợ ngoan, mẹ hiền.

Theo 2 nhà giáo dục Kodate thì "Việc bắt phụ nữ đi theo một lập trình như thế về cơ bản là các bậc phụ huynh không cho con gái của họ sự lựa chọn học hành, cũng như các viện xã hội không cung cấp cho phụ nữ cơ hội bình đẳng như nam giới".

Bức ảnh hộ chiếu của bà Kono Yasui.
Bức ảnh hộ chiếu của bà Kono Yasui.

Trước năm 1899, các tỉnh ở Nhật Bản không phát triển chương trình giáo dục cấp 2 cho nữ sinh. Phụ nữ bị cấm đi học ở các trường đại học hoàng gia cho mãi đến năm 1913. Nếu các nữ sinh được đào tạo nghề nghiệp, họ sẽ làm cô giáo, một dạng nghề nghiệp được coi là an toàn phù hợp với giới tính của phụ nữ Nhật khi đó. Mặc dù vậy, bất chấp hệ thống giáo dục bất công, Kono Yasui đã tận dụng mọi cơ hội để vươn lên.

Năm 1898, Yasui tốt nghiệp trường chuẩn tỉnh Kagawa (tương đương với trường cấp 2 ở Mỹ) và thi đầu vào để học khoa học và toán học tại Đại học phụ nữ ở Tokyo (TWHNS), ngôi trường này được công nhận đại học vào năm 1890.

Trước khi hoàn thành chứng chỉ đại học, Yasui đã cho công bố bài báo đầu tiên "Gan ruột loài cá chép của Weber" trên tạp chí Zoological Science, và trở thành người phụ nữ đầu tiên ở Nhật Bản có bài đăng trên tạp chí khoa học Nhật. Năm 1907, Yasui bước vào thời kỳ nhận việc trợ lý giáo sư tại TWHNS. Dù không được sự ủng hộ của trường đại học, Yasui cũng bắt tay vào việc nghiên cứu tế bào thực vật.

Năm 1911, sau 5 năm nghiên cứu độc lập, Yasui đã cho công bố công trình nghiên cứu của mình mang tiêu đề "Lịch sử sự sống về Salvinia Natans" đăng trên tạp chí Annals of Botany, trong đó có 119 bản vẽ các mặt cắt Microtome. Đây là lần đầu tiên một phụ nữ Nhật có công trình khoa học đăng trên tạp chí nước ngoài.

Nhờ những thành tích nghiên cứu khoa học vượt trội của Kono Yasui mà TWHNS đã đệ đơn lên Bộ Giáo dục Nhật nhằm hỗ trợ cho Yasui nghiên cứu ở nước ngoài. Lúc đầu, Bộ không đồng tình, có thể là do Bộ hoài nghi rằng phụ nữ không thể nào thành công trong các lĩnh vực khoa học.

Nữ khoa học gia Kono Yasui thời công tác tại Đại học hoàng gia Tokyo.
Nữ khoa học gia Kono Yasui thời công tác tại Đại học hoàng gia Tokyo.

Trong cuốn sách mang tiêu đề "Các nhà nữ khoa học và tư tưởng về giới", nhà nhân chủng học Sumiko Otsubo đã khám phá ra rằng giữa thời gian năm 1875 và 1940, Bộ Giáo dục Nhật Bản đã tài trợ ngân sách học hành cho tổng cộng 3.209 du học sinh Nhật tại Châu Âu và Mỹ, nhưng chỉ có 39 người trong số này là học tiếng Anh hoặc học vật lý. Với sự giúp đỡ của Kenjiro Fuji, một nhà nghiên cứu Tế bào học tại Đại học Tokyo, mà

Bộ Giáo dục Nhật đã ký phê chuẩn cho Kono Yasui được nhận ngân sách du học, nhưng kèm theo một điều kiện là "phải nghiên cứu về kinh tế gia đình" cùng với ngành chính là khoa học. Bản thân Kono Yasui cũng cam kết với Bộ Giáo dục rằng: sẽ không lập gia đình, và giành toàn bộ đời mình cho nghiên cứu khoa học.

Năm 1914, Kono Yasui đặt chân đến Đại học Chicago (Mỹ). Chỉ trong vòng 1 năm, bà đã nghiên cứu về các hình thái học của loài thủy sinh azolla tại Khoa thực vật của trường đại học này. Yasui dự định sẽ đi nghiên cứu tiếp ở Đức, nhưng vì Đại chiến thế giới thứ I nổ ra nên bà đã chuyển đến đeo đuổi khoa học tại Đại học Radcliffe ở Cambridge (tiểu bang Massachusetts, Mỹ) vào năm 1915, nơi đây bà nghiên cứu dưới sự dìu dắt của nhà Thực vật học Edward C. Jeffrey từ Đại học Harvard.

Quay trở lại Nhật Bản vào năm 1916, Yasui tiếp tục nghiên cứu về than đá Nhật Bản và một lần nữa bà đảm nhận công việc giảng dạy tại TWHNS. Năm 1919, Yasui nhận được một khoản tài trợ từ Bộ giáo dục để tiếp tục nghiên cứu về Tế Bào học.

Trong suốt thời gian nghiên cứu, lần lượt Yasui đã khám phá ra 6 giống loài thực vật cổ đại, bao gồm giống cây Cù Tùng mà bà tìm thấy tại một mỏ than. Năm 1927, Yasui cho công bố công trình nghiên cứu thực vật học của mình, một tổng hợp gồm 9 tập tài liệu nói về địa chất, trong đó cây cối mục nát biến thành trầm tích carbon và thành than đá.

Để công nhận những cống hiến phi thường trong nghiên cứu khoa học tiên phong của Kono Yasui, Đại học Hoàng gia Tokyo đã trao học vị Tiến sĩ khoa học cho bà, dù Yasui không phải là sinh viên chính thức của trường này.

Trong suốt sự nghiệp của mình, Kono Yasui đã cho công bố tổng cộng 99 tài liệu khoa học và nhận được rất nhiều lời khen ngợi bởi sự cống hiến của bà. Mặt khác, bà cũng thực hiện chiến dịch cho nữ giới đi học đại học, nâng cấp TWHNS thành trường đại học nghiên cứu quốc gia dành cho phụ nữ vào năm 1949, đổi tên thành trường Đại học Ochanomizu.

Tại trường Ochanomizu, Yasui trở thành giáo sư khoa học và cuối cùng là giáo sư danh dự trước khi nghỉ hưu vào năm 1952. Nhưng có vẻ nhà khoa học Kono Yasui cũng có vẻ không thống nhất, vì khi được mời vào Hiệp hội các nhà nữ khoa học gia (SWS), bà đã từ chối.

Cùng với nhà nữ khoa học Chika Kuroda (người cũng có học vị Tiến sĩ khoa học), họ đã thành lập nên Học bổng Yasui-Kuroda, chuyên trao cho những phụ nữ có thành tích xuất sắc trong các ngành khoa học tự nhiên.

Bất chấp có rất nhiều ấn phẩm khoa học được phát hành, bản thân Kono Yasui tỏ ra rất ngại ngần khi tự viết về bản thân bà, đồng nghĩa rằng phần lớn những câu chuyện nói về bà đều do người khác chấp bút.

Hải Nguyễn (tổng hợp)

Các tin khác

Cảm biến lượng tử truy tìm tín hiệu vô tuyến

Cảm biến lượng tử truy tìm tín hiệu vô tuyến

Giữa môi trường tác chiến điện từ ngày càng phức tạp, nơi hàng trăm nguồn phát tín hiệu có thể xuất hiện đồng thời trên chiến trường, quân đội Mỹ đang tìm kiếm những công cụ mới để nâng cao năng lực nhận thức tình huống. Trong nỗ lực đó, các nhà khoa học thuộc Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Lục quân Mỹ (ARL) vừa trình diễn một cảm biến lượng tử thế hệ mới có khả năng xác định hướng của trường điện từ tần số vô tuyến trong không gian ba chiều.

UAV cải tiến có thể tự “săn mồi” trong vùng gây nhiễu

UAV cải tiến có thể tự “săn mồi” trong vùng gây nhiễu

Chiến trường tương lai có thể không còn được quyết định bởi số lượng UAV, mà bởi khả năng chúng tiếp tục chiến đấu khi bị "làm mù" và "cắt đứt liên lạc". Một công bố mới từ Trung Quốc về thuật toán AI HG-STR đang thu hút sự chú ý của giới quân sự khi tuyên bố giúp bầy UAV tự phối hợp truy tìm mục tiêu trong môi trường tác chiến điện tử phức tạp.

Bóng đen sau cánh cửa 37 quốc gia

Bóng đen sau cánh cửa 37 quốc gia

Tháng 2/2026, khi Palo Alto Networks công bố báo cáo về một chiến dịch gián điệp mạng quy mô toàn cầu, Pete Renals, Giám đốc Chương trình An ninh quốc gia của Unit 42, đã dùng một so sánh rất nặng. Ông nói với Recorded Future News rằng đây có thể là vụ xâm phạm hạ tầng chính phủ toàn cầu nghiêm trọng nhất do một nhóm được nhà nước hậu thuẫn thực hiện kể từ SolarWinds. So sánh ấy không ồn ào. Nhưng ai từng theo dõi SolarWinds năm 2020 đều hiểu nó nặng đến mức nào.

EU sẽ gia nhập “mặt trận” chip AI

EU sẽ gia nhập “mặt trận” chip AI

EU dự kiến tham gia sáng kiến chip AI do Mỹ khởi xướng, đánh dấu bước dịch chuyển đáng chú ý trong nỗ lực của phương Tây nhằm kiểm soát chuỗi cung ứng công nghệ chiến lược và kiềm chế tham vọng công nghệ của Trung Quốc.

Gián rít Madagascar - trinh sát toàn năng trong tương lai?

Gián rít Madagascar - trinh sát toàn năng trong tương lai?

Công nghệ điện tử - tự động hóa và trí tuệ nhân tạo phát triển, nhiều sản phẩm viễn tưởng bước ra khỏi phim ảnh để vào đời thực. Tiên phong có gián rít Madagascar “côn trùng người máy” đầu tiên của các nhà khoa học Đức.

Số phận của chiếc MQ1-Predator

Số phận của chiếc MQ1-Predator

Nhiệm vụ chính của máy bay không người lái MQ-1 Predator là ngăn chặn và tiến hành trinh sát vũ trang chống lại mục tiêu quan trọng, dễ bị phá hủy. Khi không thực hiện nhiệm vụ chính, MQ-1 sẽ cung cấp hoạt động trinh sát, giám sát và xác định mục tiêu để hỗ trợ chỉ huy Lực lượng Liên hợp.

Thế giới không thể lơ là trước cuộc chiến chống Ebola

Thế giới không thể lơ là trước cuộc chiến chống Ebola

Một “con bệnh” từ những cánh rừng châu Phi lại trỗi dậy, gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự mong manh của an ninh y tế toàn cầu. Virus Ebola, với tỷ lệ tử vong cao và khả năng gieo rắc nỗi kinh hoàng đang bùng phát trở lại. Một cuộc chiến mới với ngành y tế thế giới lại bắt đầu.

Nhân tố con người trong kỷ nguyên AI quân sự

Nhân tố con người trong kỷ nguyên AI quân sự

Xu hướng đưa trí tuệ nhân tạo (AI) vào lĩnh vực quân sự ngày càng tăng, nhưng cơ chế quản lý vẫn chưa rõ ràng. Dù mang lại nhiều lợi ích cho ngành tình báo và hậu cần, việc quá phóng đại năng lực AI dễ đẩy cao căng thẳng toàn cầu và gây ra những sai sót hệ thống. Trước thực trạng đó, bà Jacquelyn Schneider, Giám đốc Sáng kiến Mô phỏng Chiến tranh và Khủng hoảng tại Viện Hoover (Đại học Stanford), nhận định rằng kiểm soát an toàn từ khâu phát triển và nâng cao tư duy phản biện cho quân nhân là giải pháp cốt lõi.

Khi AI bước vào chiến trường

Khi AI bước vào chiến trường

Quân đội Mỹ đang phát triển các mô hình AI được huấn luyện dựa trên dữ liệu từ nhiệm vụ thực tế, với mục tiêu triển khai một chatbot AI (trí tuệ nhân tạo) dành riêng cho binh sĩ, cho thấy tham vọng đẩy nhanh ứng dụng AI trong quân sự.

Những bí mật không thể xóa trong dữ liệu ADN

Những bí mật không thể xóa trong dữ liệu ADN

Ngày 23/3/2025, công ty xét nghiệm gen 23andMe nộp đơn xin bảo hộ phá sản theo Chương 11 tại Tòa Phá sản Mỹ khu vực Đông Missouri. Trong vòng 24 giờ, lượng truy cập vào trang web của công ty tăng 526%. Không phải vì khách hàng muốn đọc thông báo phá sản, mà vì hàng triệu người đổ xô vào trang hỗ trợ với một mục đích duy nhất: xóa dữ liệu ADN của mình trước khi chúng bị chuyển giao trong một thương vụ phá sản. Nhưng câu hỏi mà không ai trong số họ có thể trả lời được là: liệu xóa có còn kịp không?

Bộ xương giả và 41 năm tự đánh lừa của khoa học Anh

Bộ xương giả và 41 năm tự đánh lừa của khoa học Anh

Suốt 41 năm, giới khoa học và công chúng đã đặt niềm tin vào một “sự thật” mang tên “Người Piltdown”. Vụ lừa đảo kinh điển này không chỉ phơi bày sự xảo quyệt của một cá nhân, mà còn là lời cảnh báo sâu sắc về những điểm mù của tri thức khi bị dẫn dắt bởi thiên kiến xác nhận và lòng tự tôn dân tộc thái quá.

Bom không nổ hủy diệt hệ thống điện

Bom không nổ hủy diệt hệ thống điện

Lực lượng Nga tại các khu vực tạm chiếm thuộc vùng Donetsk tuyên bố rằng, lực lượng Ukraine đã sử dụng máy bay không người lái (UAV) trang bị bom graphite (than chì) trong các cuộc tấn công ban đêm. Điều này làm dấy lên nhiều câu hỏi về loại vũ khí này, lý do tại sao chúng có thể hiệu quả, và loại máy bay không người lái nào của Ukraine có khả năng mang loại vũ khí này?

Vũ khí “Made in Japan” mở đường tiến ra thị trường toàn cầu

Vũ khí “Made in Japan” mở đường tiến ra thị trường toàn cầu

Sau nhiều thập kỷ tự ràng buộc bởi các chính sách hạn chế nghiêm ngặt, Nhật Bản đã chính thức dỡ bỏ rào cản xuất khẩu vũ khí sát thương. Bước ngoặt này mở ra vận hội mới cho ngành công nghiệp quốc phòng Nhật Bản và đưa các sản phẩm "Made in Japan" vào thị trường vũ khí toàn cầu - một thị trường mà Tokyo chưa từng thực sự đặt chân vào kể từ sau Thế chiến II.

Koral - Tên lửa đất đối không của Ukraine

Koral - Tên lửa đất đối không của Ukraine

Tên lửa đất đối không Koral (đôi khi cũng được viết là Coral) dường như đã ra mắt công chúng như một phần trong loạt hệ thống vũ khí nội địa mới của Ukraine được giới thiệu gần đây.

Những thử nghiệm độc đáo của NASA trong không gian

Những thử nghiệm độc đáo của NASA trong không gian

Các thí nghiệm trên tàu con thoi vũ trụ đã chỉ ra rằng vi khuẩn Salmonella, một nguồn gây ngộ độc thực phẩm phổ biến và đôi khi gây tử vong, trở nên độc hại hơn trong không gian. Đó là nghiên cứu được thực hiện trên chuyến bay STS-115 của tàu Atlantis năm 2006 và STS-123 của tàu Endeavour hai năm sau đó...

Báo động tình trạng ma túy xâm nhập học đường

Báo động tình trạng ma túy xâm nhập học đường

Những lọ tinh dầu nhỏ gọn, mang vẻ ngoài vô hại như dung dịch thuốc nhỏ mắt hay tinh dầu thuốc lá điện tử đang trở thành lớp vỏ ngụy trang tinh vi cho các chất ma túy thế hệ mới. Không chỉ dừng lại ở việc sử dụng, mà đau lòng hơn, nhiều em học sinh còn mua bán, tàng trữ ngay trong môi trường học đường, gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng mua bán ma túy ngày càng trẻ hóa.

Hiệu quả chuyển đổi số trong công tác tuyển sinh đầu cấp

Hiệu quả chuyển đổi số trong công tác tuyển sinh đầu cấp

Những ngày gần đây, các địa phương trên cả nước đang tất bật triển khai công tác tuyển sinh đầu cấp. Với thành phố đông dân, tập trung nhiều trường học như Thủ đô Hà Nội, công tác tuyển sinh càng được chú trọng thay đổi; từ khâu đăng ký dự thi, tra cứu thông tin đến công bố kết quả triển khai đồng bộ các nền tảng trực tuyến, mang lại sự thuận tiện và minh bạch hơn cho phụ huynh, học sinh.