Người khiến thú dữ cũng phải phải vâng lời

Để ghi nhận công lao to lớn của nghệ sĩ Tạ Duy Hiển trong lĩnh vực xiếc còn khá mới mẻ và đầy rẫy khó khăn ngay từ khi thành lập vào năm 1922, ngay từ đợt phong danh hiệu nghệ sĩ đầu tiên (năm 1984), Nhà nước ta đã truy tặng Tạ Duy Hiển danh hiệu NSND. Và, với bức tượng bán thân được đặt trang trọng trong khuôn viên Rạp Xiếc Trung ương, đến nay, Tạ Duy Hiển vẫn là nghệ sĩ xiếc duy nhất ở Việt Nam được hưởng sự vinh danh này...

Cố nghệ sĩ Tạ Duy Hiển từng là Trưởng đoàn Xiếc nhân dân Trung ương (tiền thân của Liên đoàn Xiếc Việt Nam hiện nay). Với việc cho ra đời một gánh xiếc có sức thu hút đông đảo công chúng tại Hà Nội vào năm 1922, một gánh xiếc có khả năng cạnh tranh và "đánh bại" xiếc "Tây", Tạ Duy Hiển được xem là người khai mở cho nghệ thuật xiếc Việt Nam hiện đại. Để ghi nhận công lao to lớn của ông trong lĩnh vực còn khá mới mẻ và đầy rẫy khó khăn, ngay từ đợt phong danh hiệu nghệ sĩ đầu tiên (năm 1984), Nhà nước ta đã truy tặng Tạ Duy Hiển danh hiệu NSND. Và, với bức tượng bán thân được đặt trang trọng trong khuôn viên Rạp Xiếc Trung ương, đến nay, Tạ Duy Hiển vẫn là nghệ sĩ xiếc duy nhất ở Việt Nam được hưởng sự vinh danh này...

Nghệ sĩ Tạ Duy Hiển sinh năm 1889 tại phố Cầu Đất, Hà Nội. Tuổi thơ của ông khá cơ cực. Bố mất sớm, mẹ theo nghề mổ lợn; ngày ngày ông phải đội lòng lợn ra chợ bán. Đến tuổi thanh niên, ông chuyển qua nghề đánh xe ngựa, chuyên phục vụ các đám hiếu, hỉ và cả chở khách. "Năng khiếu" xiếc của Tạ Duy Hiển có lẽ đã "phát tiết" ngay từ thời gian này, khi ông dạy ngựa biết dùng mõm nhặt tiền, dùng móng gõ xuống đất để "đếm", những mong đó là cách "nhử" khách hữu hiệu để lần sau họ tiếp tục tìm đi xe mình. 

Bấy giờ đang là thời Pháp thuộc. Ở Việt Nam , với loại hình xiếc, khán giả chỉ mới được tiếp xúc với một số gánh xiếc nước ngoài vào biểu diễn. Là người có tinh thần tự tôn dân tộc rất cao, một lần, nhân xem một tiết mục xiếc bỉ báng dân tộc mình, Tạ Duy Hiển bực bội nghĩ, tại sao không có một gánh xiếc do người Việt Nam lập nên để biểu diễn cho người Việt Nam xem?

Năm 1922, ở tuổi 33, Tạ Duy Hiển tập hợp một số con, cháu trong gia tộc thành lập nên gánh xiếc lấy tên là Xiếc Việt Nam . Trước đấy, qua một người anh trai làm nghề trồng răng ở phố Đinh Tiên Hoàng, Tạ Duy Hiển làm quen được với Charlie, một thành viên của Đoàn xiếc Bostoc. Với tài ngoại giao khéo léo, ông đã vận động được Charlie rời bỏ đoàn xiếc Bostoc để ở lại giúp ông huấn luyện các nhân viên của gánh xiếc. Tiền bạc tích cóp trong những năm làm ăn trước đây, Tạ Duy Hiển đổ cả vào việc mua gấu, ngựa, khỉ, chó... để huấn luyện.

Gánh Xiếc Việt Nam chính thức ra mắt khán giả vào ngày 5/12/1922. Ngay trong buổi biểu diễn đầu tiên, chương trình đã rất phong phú, đủ các tiết mục, từ xiếc thú tới nhào lộn, đi xe đạp, đi dây, đứng thăng bằng trên ván, thậm chí cả diễn hề... Ngay trong tiết mục xiếc thú, khán giả cũng được chứng kiến những tình huống đa dạng: Ngựa đứng bằng hai chân sau, rồi quay vòng số 8 hoặc nằm nghiêng giả chết; chó đi hai chân, leo thang, chắp tay cầu khấn; khỉ kéo xe, chơi đu, xay lúa... vv và vv... Địa điểm biểu diễn là chợ Hàng Da hôm ấy đông nghịt khách. Chinh, hào (tên gọi một số đơn vị tiền tệ thời ấy) được thả tới tấp xuống mặt sàn diễn. Thành công ban đầu cho thấy sự chuẩn bị kỹ càng, chu đáo của người nghệ sĩ trẻ. 

Sau thành công ban đầu, Tạ Duy Hiển quyết định tăng cường thêm một số "trò" mới, không để thua kém các gánh xiếc ngoại. Ông cũng nhanh chóng nhận thấy chủng loại thú mà mình có trong tay còn... hơi ít. Càng ít hơn nữa là một số loài thú dữ. Vậy là, ông vận động vợ vừa bán nốt chỗ tư trang vừa đi vay lãi bên ngoài để ông lên miền cao mua thêm một ít... hổ, báo.

Gánh Xiếc Việt Nam ngày càng có chỗ đứng trong lòng khán giả. Thậm chí, không chỉ gói gọn trong khuôn khổ nước Việt, Tạ Duy Hiển còn đưa gánh xiếc của mình đi biểu diễn tại Trung Quốc và một số nước khu vực Đông Nam Á. Uy danh của gánh xiếc ngày một lớn. Đã có lúc, nó thu nạp trong mình những gánh xiếc khác có nguy cơ rã đám. Trong một chuyến lưu diễn, gánh Xiếc Việt Nam đã thu nhận thêm nhiều diễn viên của gánh Andre Thận. Năm 1933, ông chủ Tạ Duy Hiển đã mua lại dàn động vật của gánh Amstrong (của Anh) gần như đang trong tình trạng chờ "giải thể" khi họ sang biểu diễn ở Việt Nam. Gánh Xiếc Việt Nam ngày càng mở rộng quy mô tổ chức.

Trong cuốn hồi ký của mình, nhân nhắc lại các phương tiện giải trí ở đất Hà thành những năm đầu thập niên ba mươi (của thế kỷ trước), nhạc sĩ Phạm Duy đã  viết: "Có ba gánh xiếc Việt Nam tổ chức theo xiếc Âu Tây. Gánh xiếc Việt Nam đầu tiên là gánh Lạc Long. Rồi tới gánh Long Tiên và Tạ Duy Hiển". Theo Phạm Duy thì: "Gánh Tạ Duy Hiển đồ sộ hơn vì có voi, có hổ giống như một gánh xiếc Âu - Mỹ. Ông chủ gánh Tạ Duy Hiển là người Việt Nam đầu tiên điều khiển các thú dữ. Đầu chít khăn đống, mình mặc áo gấm hoa, thắt lưng đỏ, đôi chân đi ủng và một tay cầm ghế, một tay cầm roi dài quất lên đen đét để sai khiến mấy con hổ, trông ông rất oai". Nhạc sĩ Phạm Duy không quên cho hay, cùng giai đoạn này, đã có một chủ gánh xiếc Hoa Kỳ bị khán giả tẩy chay, việc làm ăn thất bại, không đủ tiền trả nhân viên và nuôi các con thú nên đã tự tử.  

Không chỉ thể hiện tài tổ chức, Tạ Duy Hiển còn được nhiều người trong nghề kính phục bởi tài dạy thú. Ông huấn luyện, điều khiển được tất cả những con vật có trong tay, từ khỉ, chó, gấu, hổ, báo, sư tử đến ngựa, voi... Bí quyết thành công của ông, theo như nghệ sĩ Tạ Duy Nhẫn, con trai nghệ sĩ Tạ Duy Hiển, người sau này đã kế tục xuất sắc sự nghiệp của cha nhận xét, đó là do "Ông cụ rất yêu động vật, coi chúng như những người bạn". Điều đó khiến cho những con thú - một khi đã qua tay Tạ Duy Hiển - đều trở thành những con vật đáng yêu và... thông minh. Đến nay, nhiều người vẫn nhắc tới chuyện thời kỳ trước Cách mạng, Tạ Duy Hiển đã dùng một xe mui trần chở đầy hàng hóa lên Buôn Ma Thuột để đổi lấy hai con voi đưa về huấn luyện. Hau con voi này sau đó đã trở thành những "nghệ sĩ" biết đánh trống và biết... đá bóng. Chuyện Tạ Duy Hiển chỉ sau 6 tháng đã biến một con hổ dữ tợn thành một con hổ biết làm theo chỉ dẫn của con người cũng là câu chuyện được thiên hạ nhắc tới nhiều.

Nghệ sĩ Tạ Duy Hùng, một người cháu của nghệ sĩ Tạ Duy Hiển từng bật mí cho báo giới chuyện kinh nghiệm "đối xử" với loài vật của Tạ Duy Hiển. Chẳng là, một lần, nhân lúc con gấu mà ông Hùng được giao chăm sóc đang ngủ, thấy móng của nó sắc quá, sợ có thể lúc nào đó gây nguy hiểm cho người cùng diễn xuất, ông lấy kéo định cắt đi. Không ngờ mới cắt được một cái, con gấu tỉnh dậy, vừa quào đầu vừa tát ông mấy nhát khiến máu chảy dòng dòng. Tạ Duy Hùng đem chuyện này kể với nghệ sĩ Tạ Duy Hiển, thì bị ông Hiển mắng. Ông bảo, con thú cần móng vuốt để vồ môi, cắt đi "công cụ làm ăn" của nó ắt bị nó phản ứng lại.

Một bài học nữa mà nghệ sĩ Tạ Duy Hùng luôn xem là bài học nhớ đời, đó là lần ông bị... gấu vồ. Chẳng là, khi thả con gà vào cho gấu ăn, thấy con gấu không "từ tốn" như mọi khi mà vồ luôn cả con, Tạ Duy Hùng đã dùng roi và cái xiên sẵn trên tay đánh con gấu, định lấy lại con gà. Con gấu hộc lên, vung tay tát khiến cánh tay người nghệ sĩ bị cào nát. Biết chuyện này, nghệ sĩ Tạ Duy Hiển cho hành động của ông Hùng là "dốt", bởi một khi con thú dữ đang có mồi mà mình cướp của nó thì đương nhiên, theo bản năng, nó phái "đánh trả". Thật là, đối với nghề huấn luyện xiếc thú, không kiên trì, bình tĩnh, nhẫn nại... không được.

Năm 1942, do tình hình thời thế (đại chiến thế giới loang rộng, phát xít Nhật đã vào Đông Dương; người chết vì đói kém, mất mùa ngày càng nhiều), gánh Xiếc Việt Nam tan rã.

Cách mạng Tháng Tám thành công, với tinh thần tất cả vì sự nghiệp chấn hưng đất nước, trong phong trào "Tuần lễ vàng", nghệ sĩ Tạ Duy Hiển đã ủng hộ chính quyền non trẻ 25 lượng vàng. Sau này, ông còn hiến cho Nhà nước nhiều căn nhà và đất đai ở ngõ Tiến Bộ, Khâm Thiên (Hà Nội). Năm 1959, Đoàn xiếc Nhân dân Trung ương (tiền thân của Liên đoàn Xiếc Việt Nam hiện nay) được hợp nhất từ một số đoàn xiếc, gánh xiếc, nghệ sĩ Tạ Duy Hiển được tín nhiệm giữ cương vị trưởng đoàn. Ông càng có thêm dịp thể hiện tài năng tích lũy bấy lâu của mình. Trong buổi diễn ra mắt khán giả thủ đô của đoàn xiếc, nhiều khán giả vốn mến mộ tên tuổi Tạ Duy Hiển đã xúc động vỗ tay hồi lâu khi thấy người nghệ sĩ già xuất hiện trở lại trên sân khấu.

Nghệ sĩ Tạ Duy Hiển qua đời vì bệnh hiểm nghèo vào ngày 3 tháng 10 năm 1967, thọ 78 tuổi. Được tin này, nhiều khán giả đã bày tỏ sự hẫng hụt, tiếc thương. Bác Hồ cũng đã gửi thư chia buồn cùng gia quyến nhà nghệ sĩ: "Được biết cụ Tạ Duy Hiển vừa qua đời. Bác rất thương tiếc. Bác thân ái gởi lời chia buồn đến gia quyến cụ Tạ và Đoàn xiếc Nhân dân Trung ương"

Nguyễn Chí Cường

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.