“Tất cả các đơn vị tình báo trong chiến tranh chống Pháp và Mỹ, đều hình thành cơ cấu tổ chức gồm: Bộ phận hoạt động bí mật nội thành và bộ phận bám trụ tại các căn cứ, với nhiệm vụ chỉ đạo các lưới điệp báo nội thành và chuyển tin tức thu thập được về trung tâm chỉ huy cao nhất. Đối với các đơn vị cơ sở cấp Cụm (gọi là Cụm Tình báo chiến lược), bộ phận ở căn cứ, tùy theo đặc thù của mỗi cụm, mỗi địa bàn bám trụ mà bố trí lực lượng cho phù hợp. Song, hầu hết đều hình thành 3 bộ phận: Bộ phận trinh sát, hậu cần phục vụ chiến đấu, bố trí ở khu “A”; bộ phận chỉ huy, cán bộ làm công tác cơ mật, tham mưu tổng hợp, điện đài, bố trí ở khu “B”; và khu “C” (gọi là khu cách ly), dành để tiếp đón các điệp viên, giao thông viên, cơ sở bí mật… khi có yêu cầu về căn cứ. Gọi là khu cách ly, bởi đó là nguyên tắc cự ly ngăn cách, ai không có trách nhiệm không được gặp gỡ”.
Cơ sở của sự suy đoán
Cuối năm 1969, địch tăng cường đánh phá chiến trường Đông và Tây Bắc Sài Gòn. Các cửa ngõ tiếp nhận tin tức, tài liệu bí mật từ thành phố chuyển về căn cứ bị phong tỏa. Cụm H67 của chúng tôi nhận được chỉ đạo của J22 (Đoàn Tình báo miền Nam) chuyển địa bàn bám trụ về xã An Phước, huyện Châu Thành, Bến Tre. Thời đó chiến trường đồng bằng tương đối dễ thở, việc xây dựng căn cứ bám trụ được thực hiện đúng theo hình mẫu nêu trên. Tình hình lắng dịu nên ở khu “C” thi thoảng có khách ở nội thành về. Hầm trú ẩn và lán làm việc thuộc bộ phận chuyên môn của tôi chỉ cách khu “C” 3 bờ mương dừa, nên thấp thoáng khách về là biết. Biết là khách nam hay nữ thôi chứ không khi nào tỏ mặt. Khách về Cụm chỉ lưu lại từ 1 tới 2 ngày. Duy nhất có một lần, khoảng tháng 3 năm 1971, xuất hiện ở khu “C” một khách nam. Vị khách này lưu lại ở căn cứ cả tuần.
Một buổi chiều yên tĩnh, anh em chúng tôi đang ngồi uống trà trước lán hội trường thì Cụm trưởng Bảy Vĩnh sang. Tháp tùng ông là một người đàn ông lạ hoắc, tuổi chừng ngoài bốn chục, nhỏ con, da trắng, dáng thư sinh. Tôi ngờ ngợ đó là vị khách ở khu “C”. Đoán vậy, nhưng phủ định luôn: “Vô lý! Khách ở khu đó sao lại cho gặp cả làng thế này?”. Tôi đang phập phù suy đoán, thì Cụm trưởng đã cho lời giải đáp: “Chào các đồng chí! Có sự kiện gì mà rôm rả thế? Cho tụi này góp vui với, nhân thể có lãnh đạo mới đây!”. Ông chỉ tay về phía vị khách đi cùng: “Xin giới thiệu với các đồng chí, đây là anh Tám Thanh, công tác nhiều năm trong thành. Cấp trên có quyết định rút về căn cứ, giữ cương vị Cụm phó phụ trách một phần công tác nghiệp vụ”. Pháo tay nổi lên.
Tôi thở phào nhẹ nhõm, vậy là phán đoán của mình cũng chuẩn đấy chứ! Với kinh nghiệm nghiệp vụ, tôi còn có một phán đoán thứ hai về vị khách này khi ông còn hoạt động bí mật tại Sài Gòn. Mấy hôm sau, nhân cuộc làm việc riêng với Cụm trưởng, tôi mạnh dạn hỏi ông: “Anh Bảy ơi! Có phải Cụm phó mới của mình là H8 không?”. Ông khẽ cười: “Thì H8 đó chớ ai! Cơ sở nào mà Ba Dương (tên thường gọi của tôi ở chiến trường) đoán vậy?” - “Thì em đoán mò vậy thôi”.
Nói thế, thực ra cũng có cơ sở để tôi suy đoán. Số là trong quá trình làm công tác tổng hợp báo cáo giúp Cụm trưởng gửi về trung tâm và tiếp nhận chỉ đạo của Trung tâm gửi Cụm, những thông tin nói về các điệp viên trong thành tôi đều thấy dùng bí số có chữ “H” kèm theo số liệu như: H1, H3, H7, H9… kể cả những chuyến Cụm trưởng Bảy Vĩnh đột kích vô thành, báo cáo của ông cũng ký theo bí số: “Ngày… tháng… H7 xin báo cáo H6 về kết quả chuyến đi…”. H7 đích thị là ông và H6 là ông Sáu Trí, Đoàn trưởng J22.
Cơ sở để tôi phỏng đoán bí số của ông Tám Thanh, xuất phát từ suy luận trên. Nói thế, nhưng tất cả không phải như thế, bởi có những điệp viên mang tới hai, ba mật danh, như trường hợp H3 và H9. Thực ra đây chỉ là một người. Ông là Nghị sĩ Quốc hội Sài Gòn, có chức sắc trong Ủy ban An ninh - Quốc phòng Hạ viện. H3 là điệp viên chủ lực của đơn vị chúng tôi thời ấy. Để chuẩn bị cho chiến dịch Tết Mậu Thân, H3 đã sử dụng xe của Ủy ban An ninh - Quốc phòng trực tiếp đưa Cụm trưởng Bảy Vĩnh và ông Năm Truyện (Sư trưởng của ta) đi điều nghiên một số mục tiêu quan trọng tại Sài Gòn như: Sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Tổng Nha cảnh sát quốc gia, Nha Cảnh sát đô thành; đưa Cụm trưởng Bảy Vĩnh đi điều nghiên toàn bộ thị xã Phước Long và thị trấn Phước Bình.
Đài phát sóng trong lòng địch
Phương thức liên lạc giữa các lưới điệp báo nội thành với Trung tâm và ngược lại được phổ biến thực hiện theo mấy hình thức: Tài liệu điệp viên thu được, giao cho giao thông viên chuyển trực tiếp về căn cứ của cụm. Hình thức thứ hai, những tin tức đặc biệt quan trọng, thời gian cho phép, điệp viên tìm cách báo cáo trực tiếp lãnh đạo cụm (có thể diễn ra tại căn cứ hoặc ở hộp thư bí mật tại cửa ngõ gần căn cứ nhất); việc chỉ đạo của cấp trên với các lưới điệp báo nội thành, ngoài sử dụng các hình thức trên, còn có một hình thức đảm bảo an toàn tuyệt đối, đó là sử dụng đài một chiều. Nội dung cần truyền đạt được mã hóa, đúng giờ quy định liên lạc, bộ phận vô tuyến điện tại căn cứ phát lên không trung bằng tín hiệu “moóc”. Điệp viên có thể sử dụng rađio thu tín hiệu rồi dịch ra nội dung. Vì vậy, hầu hết các điệp viên trong quá trình huấn luyện nghiệp vụ đều phải học kỹ thuật moóc và mật mã.
Còn một hình thức đặc biệt nữa đối với các lưới điệp báo nội thành, đó là những tin tức cực kỳ quan trọng, thời gian tính cao, không thể sử dụng bất kỳ hình thức nào đã nêu trên thì thực hiện bằng đài phát sóng tại chỗ. Song, hình thức này không phải đơn vị nào cũng có thể thực hiện, bởi nó kèm theo những yếu tố ngặt nghèo: phải có địa điểm bí mật, an toàn cho việc đặt đài phát sóng.
Giữa đô thành Sài Gòn lúc đó mật vụ đông như rươi. Kỹ thuật phản gián điện đài thuộc diện siêu hạng, toàn phương tiện do Mỹ trang bị với độ chính xác cao. Chỉ cần một làn sóng điện lạ xuất hiện trong thành phố, trong vòng từ 5 tới 7 phút, bằng phương pháp giao hội 3 điểm là họ có thể xác định được điểm phát sóng chính xác tới từng xăng ti mét. Toàn bộ phương tiện và người tại mục tiêu sẽ bị bắt ngay tức khắc. Bởi thế một nguyên tắc bất di bất dịch, hiệu thính viên (nhân viên điện đài) phải chấp hành nghiêm ngặt thời gian phát sóng. Mỗi phiên liên lạc không được quá giới hạn 4 phút. Dẫu chỉ còn một vài nhóm điện cũng phải tắt máy, chờ phiên sau.
Yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định cho hình thức liên lạc này là phải được cấp trên chấp nhận, cung cấp phương tiện, cán bộ nghiệp vụ chuyên ngành (vô tuyến điện, cơ yếu, cơ công). Để được cấp trên phê duyệt, phải xuất phát từ yêu cầu thực tế của đơn vị. Với mạng lưới bí mật đã từng thu thập được nhiều thông tin quan trọng cả về chiến lược và chiến thuật, thiết thực phục vụ cho công tác chỉ huy, chỉ đạo. Trước Tết Mậu Thân chừng 5 tháng, H67đề xuất và được lãnh đạo J22 chấp thuận. Đồng thời phê duyệt luôn phương án cho Cụm tiến hành khảo sát mua ngay một ngôi nhà đặt đài phát sóng, đặt bí số là Đài “Sài Gòn 2”. Máy được chuyển gấp về căn cứ của đơn vị tại mật khu Bời Lời. Một tuần sau, nó được chuyển vào Sài Gòn và được cất giấu tại nhà ông Nghị sĩ Quốc hội Sài Gòn, có bí số là H3. Một địa chỉ có thể nói là tuyệt đối an toàn, bất khả xâm phạm.
Vì vậy, sau khi rà soát lại toàn bộ lực lượng hoạt động bí mật của Cụm ở Sài Gòn, Cụm trưởng Bảy Vĩnh quyết định giao cho vợ chồng H8 (H8 và H8B) tiến hành khảo sát một số khu vực tại các quận nội thành hội đủ yêu cầu có thể đặt đài. Sau khi nghe báo cáo, Cụm trưởng Bảy Vĩnh quyết định mua ngôi nhà tại khu vực quận 3, nằm sâu trong một ngõ nhỏ. Ngôi nhà bình dị, phù hợp với kinh phí hạn hẹp mà tổ chức cho phép. Điều quan trọng nữa là nó nằm gần khu vực nhà H8 ở phố Trần Quang Diệu, thuận tiện cho việc theo dõi, quản lý và bảo vệ. Ngoài nhiệm vụ trên, H8 còn chịu trách nhiệm nhận và chuyển những tài liệu khẩn cấp từ điệp viên của Cụm về đài phát; theo dõi, giám sát thời gian phát sóng đảm bảo đúng chế độ quy định. Đồng thời kiểm tra việc cất giấu phương tiện và sẵn sàng phi tang khi có dấu hiệu nguy hiểm.
Là người đã sinh sống nhiều năm ở Sài Gòn, có kinh nghiệm trong hoạt động bí mật, bình phong chức nghiệp bằng nhiều nghề như: giáo học, cán bộ văn hóa - văn nghệ… phom người cộng với tính tình hiền dịu của ông rất phù hợp với các nghề ông đã thủ vai. Đồng thời, với con mắt rất nghiệp vụ, khi chọn mua địa điểm đặt đài, ông đã tính ngay tới khi xảy ra tình huống xấu nhất. Nhà có tý sân nhỏ. Góc sân có cái giếng nhỏ lâu ngày không dùng. Chủ cũ đã cho làm nắp xi măng đậy lên và đặt trên đó một chậu hoa. Điểm phi tang, xóa dấu vết chính là cái giếng cũ. Mấy ngày sau khi nhận bàn giao nhà, ông đã biến cái nắp giếng thành nắp hầm bí mật, hoa lá phủ kín, tài mấy mà phát hiện được.
Sau này, chẳng đợi tới tình huống bất trắc đâu mà vẫn phải sử dụng tới biện pháp phi tang. Số là khi được trang bị điện đài (cả máy thu và phát) với công suất 15W phải dùng tới 100 cục pin đấu lại. Khối pin khổng lồ còn cồng kềnh và nặng hơn cả máy. Ít lâu sau được đổi máy phát mới, công suất thấp, có thể sử dụng điện lưới. Nếu không có cái giếng bí mật ở góc sân thì khối pin kia sẽ bỏ đi đâu?
Nói về cái đận đi đổi máy phát cũng thật nhiêu khê. Không có cách nào để chuyển máy vào nội thành. Từ căn cứ đành chuyển về gia đình cơ sở bí mật ở mạn Hóc Môn. Vợ chồng H8 được giao nhiệm vụ chuyển tiếp vào thành. Hai người phải sử dụng xe gắn máy chở nhau đi lễ. Cái giỏ xách đầy vàng hương đã gói trọn chiếc máy phát trong đó nên chiều đi, chiều về đều qua mắt trạm kiểm soát của địch.
Thế là cả chiến dịch Mậu Thân và giai đoạn tiếp theo Đài “Sài Gòn 2” của H67 hoạt động tốt, chuyển đi nhiều thông tin quan trọng, đảm bảo tuyệt đối an toàn. Công lao ấy có phần đóng góp quan trọng của vợ chồng H8. Theo tác giả bài viết này được biết, thời gian hoạt động bí mật tại Sài Gòn, H8 được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công và nhiều bằng khen, chắc chắn có thành tích của giai đoạn đặc biệt này.
Ngỡ ngàng giữa đô thành Hà Nội
Kết thúc chiến tranh, các cụm Tình báo hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Hầu hết anh em H67 chúng tôi chuyển ngành, công tác tại thành phố Hồ Chí Minh, sót lọt nhõn mình tôi, chuyển sang lực lượng An ninh, làm việc tại Hà Nội, công tác có liên quan nhiều tới lĩnh vực văn hóa - thông tin. Nhân một hội nghị xuất bản - phát hành toàn quốc tổ chức tại Hà Nội, tôi thấy xuất hiện một người rất giống thủ trưởng cũ của mình. Tôi hỏi một anh trong Ban Tổ chức, được biết đó là đồng chí Nguyễn Thanh Nam - Phó giám đốc PHAHASA (Phát hành sách) TP Hồ Chí Minh. Bán tín bán nghi, tôi đi thẳng tới, cả hai sững người, ôm chầm lấy nhau, tôi thốt lên: “Trời ơi! Chú Tám!... Không ngờ lại được gặp chú ở đây!”. Tới hôm đó tôi mới biết họ tên thật của ông.
Thì ra Tám Thanh là tên thường gọi ở chiến khu, với bí số H8 sử dụng trong những năm tháng ông hoạt động bí mật tại Sài Gòn. Cũng như vợ ông, một giao thông viên “gạo cội” mang bí số H8B. Song, tên thật của bà là Vũ Thị Hoàng. Đó là người đầu tiên của H67 tôi được gặp giữa Thủ đô Hà Nội. Phải đến mười mấy năm nay kể từ khi ông chuyển về làm lãnh đạo Phòng Tổ chức cán bộ của Sở Văn hóa - Thông tin, rồi nghỉ chế đội hưu trí, tôi chưa có dịp gặp lại.
Thế rồi, dịp kỷ niệm lần thứ 37 ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong chuyến đi thực hiện ước vọng về thăm chiến trường xưa, đồng đội cũ, chẳng phải chỉ được gặp riêng ông vào trưa 30-4, mà còn có cả gần 40 anh chị em H67 sống rải rác ở nhiều tỉnh Nam Bộ, khi nhận được thông báo của ông với tư cách Trưởng ban Liên lạc cựu quân nhân H67, anh em đều kéo về thành phố.
Ở tuổi tám mươi lăm, sức khỏe giảm sút nhiều và còn vô số những day dứt đời thường, nhưng nghĩa tình đồng đội vẫn đầy ắp trong ông. Nếu không có lòng nhiệt tình của ông thì chuyến đi của tôi dễ gì được trọn vẹn.
Xứ Đoài, tiết Thu, năm Thìn