Người đàn ông đam mê văn hóa trà Việt

Những ai quan tâm đến trà và nghệ thuật thưởng trà, không thể không biết tới nghệ danh Vũ Quý Nhân (còn gọi là Mông Đông Vũ, là người dân tộc Tày ở Thái Nguyên) - người có bộ sưu tập ấm pha trà đồ sộ nổi tiếng tại Việt Nam, với hàng trăm ấm trà cổ với nhiều kiểu dáng, hoa văn độc đáo.

Đam mê và có những hiểu biết sâu sắc về văn hóa trà, ông được coi là người đầu tiên ở Việt Nam và là người dân tộc Tay dày công nghiên cứu và đưa văn hóa trà vào lễ hội.

Mối duyên từ nghệ sĩ chèo

Sinh ra và lớn lên tại xã Lam Vĩ, huyện Định Hóa (Thái Nguyên) - vùng đất của trà, từ nhỏ, Vũ Quý Nhân đã được tiếp xúc với trà, dùng trà như đồ uống hàng ngày. Ông tâm sự, đất trời đã ban tặng cho Thái Nguyên khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp với cây chè, để rồi có những vùng chè ngon nổi tiếng như: Trại Cài, La Bằng, Tân Cương. "Tôi cảm thấy mình thật may mắn khi được sinh ra trên mảnh đất này, được sống và thưởng thức các loại chè ngon, hương vị rất riêng mà chỉ có chè Thái Nguyên mới có",  ông Vũ Quý Nhân nói.

Bên chén trà còn hơi nóng, ông kể lại "hành trình" ấp ủ đam mê với trà. Năm 1968, ông đi bộ đội và là lái xe vận tải Trường Sơn. Năm 1973, ông lái xe kéo pháo ở chiến trường Quảng Nam Đà Nẵng. Năm 1977, giải phóng xong thì ông ra quân rồi đi học ở trường đoàn Trung ương. Đến 1979, ông về công tác và làm Phó Bí thư Huyện đoàn, rồi cán bộ phong trào ở Phòng Văn hóa Huyện Định Hóa.

Năm 1983, ông tiếp tục học Đại học Văn hóa Hà Nội, ra trường về làm việc tại phòng nghệ thuật của nhà hát tỉnh. Sau đó ông làm Trưởng Đoàn Chèo Bắc Thái - Trưởng đoàn chèo đầu tiên đưa hình tượng Bác Hồ lên sân khấu chèo. Ông đã dàn dựng nhiều vở chèo thành công, trong đó nổi tiếng hơn cả là vở "Đức thánh Dương Tự Minh".

Nghệ danh Vũ Qúy Nhân bên ấm trà (Ảnh: Phương Vy)
Nghệ danh Vũ Qúy Nhân bên ấm trà (Ảnh: Phương Vy)

Chính thành quả sân khấu này, đã đưa ông đến với văn hóa trà. Khi đi công diễn ở các địa phương trong và ngoài tỉnh, ông đều tranh thủ đến nhà dân hỏi han về những bình trà cổ, rồi bỏ tiền ra mua về. Là người Tày "chính hiệu", không pha chút nào (năm 15, 16 tuổi ông mới biết nói tiếng Kinh), ông theo "linh tính mách bảo" đến với bà con dân tộc thiểu số những nơi đoàn chèo đi diễn để sưu tầm các mẫu chè ngon của nhiều vùng chè. 

Năm 2001, ông làm Giám đốc Trung tâm Văn hóa tỉnh Thái Nguyên và có cơ hội được hiểu sâu hơn về chè. Ông tâm sự: Khi chuyển về công tác ở Thái Nguyên, vì đặc thù công việc khi làm Trưởng đoàn, ông phải đưa đoàn kịch đi khắp nơi, ông băn khoăn đặt câu hỏi tại sao mình không sưu tầm trà?

Sự trải nghề của ông cũng xuất phát từ niềm đam mê, tất cả những vùng trồng và sản xuất chè ngon nổi tiếng như: Tuyên Quang, Lâm Đồng, Lào Cai, Yên Bái sang Lạng Sơn ông đều đến tận nơi tìm hiểu. Ông cũng đau đáu, nếu như mình cứ tìm trà ngon, thì sẽ không tìm được sự độc đáo.

Ông bộc bạch từ câu hỏi của bạn bè tại Hiệp hội Chè Việt Nam: "Ông Vũ ơi, tôi đi đọc báo cáo ở Hiệp hội các nước, mình nói là chè Việt Nam ngon, họ không tin, họ nói chè do khẩu vị. Nhật cũng bảo chè Nhật ngon, Hàn Quốc, Trung Quốc cũng bảo chè họ ngon". Từ đó, ông mới băn khoăn tự hỏi, tại sao mình không chứng minh Việt Nam có một nền văn hóa trà?

Trở thành người chuyên nghiên cứu về trà

Những tưởng ông là người "nghiện trà" nên mới có hứng thú để tìm tòi và phát triển về văn hóa trà Việt. Nhưng nghe ông tâm sự, chúng tôi được biết: Lúc đầu, ông "thử  chè" ở cấp xóm: xóm Guộc - xã Tân Cương. Ngày mồng 4 Tết năm 2004, Hội chè xuân xóm Guộc lần đầu tiên được tổ chức với nội dung gồm thi sao chè bằng chảo gang, các cô gái làng Guộc thi pha trà mời khách, văn nghệ, tung còn, bình thơ…

Ông Vũ cho biết: "Thật bất ngờ vì du khách kéo đến rất đông. Có lẽ đó là lần đầu tiên ở nước ta văn hóa trà Việt được đưa vào lễ hội làng và trở thành linh hồn của ngày hội". Sau một năm, Hội chè Xuân xóm Guộc lần 2 được tổ chức mở rộng thành phần thêm một số xóm trong và ngoài xã Tân Cương và khách thập phương đến đông hơn rất nhiều.

Ông phân tích rằng văn hóa trà Việt vẫn bị ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc và Nhật, nhưng làm thế nào tìm được nét riêng để phân biệt được rằng cái này là của người Việt chứ không phải của người Tàu?

Từ lễ hội xóm Guộc - Tân Cương, năm 2006, hội đã nâng lên cấp xã với tên gọi "Hội chè Xuân Tân Cương". Ông Vũ cho biết thêm: "Xóm Guộc là nơi phát tích danh trà Tân Cương và Lễ hội văn hóa trà Thái Nguyên, Việt Nam". Ông cũng từng được mời làm giám khảo trong nhiều buổi tiệc trà tại các tỉnh, thành như Đà Lạt (Lâm Đồng), Bà Rịa - Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu), Hội An (Quảng Nam), Hà Giang, Bắc Giang, Phú Thọ, Hà Nội,.. 

Ông say sưa kể lại kỷ niệm năm 2006, tại Đà Lạt, trung tâm lễ hội tỉnh Lâm Đồng mời ông cùng với bộ sưu tập 200 ấm trà độc đáo vào trưng bày tại Lễ hội văn hóa trà, để giới thiệu văn hóa Trà Việt, và đồng thời làm giám khảo của lễ đó với hai lí do, khả năng phân biệt về chè khá sành sỏi, và ông có bộ sưu tập về ấm trà.

Khi ấy, rất nhiều người biết đến ông khi được vinh danh là người sưu tập ấm trà nhiều nhất. Với đủ các loại ấm trà, từ ấm tiên, ấm Phật đến bộ tứ linh "long-ly-quy-phụng", bộ tứ quý "xuân - hạ - thu - đông" …với đủ dạng chất liệu từ sành, sứ, đất nung, đến bạc, đồng, vàng, ngọc,… bộ ấm trà độc đáo của ông đã được ghi vào sách kỷ lục Việt Nam những năm sau đó.

Được nhiều người biết đến nhưng ông khẳng định: "Bộ sưu tập ấm trà cổ của tôi suy cho cùng để phục vụ cho việc phát triển văn hóa trà, chứ không phải chơi đồ cổ". Ông đi tìm sự độc đáo của các kiểu ấm trà. Ông cho tôi biết trong các loại đồ gốm sứ, cái ấm thể hiện sự độc đáo nhất, có nắp ấm, có thân ấm, có quai, có vòi ấm, họa tiết hoa văn, còn bình vôi, lục bình, đĩa sẽ đơn giản hơn.

Ông công bố bộ sưu tập ấm chỉ để khẳng định Việt Nam có văn hóa trà. Theo ông, văn hóa trà gắn bó với người dân Việt Nam từ rất lâu, và có những nét riêng đặc trưng so với các nước trên thế giới.  Người Việt đã sản xuất ra nhiều ấm trà, chứng tỏ có văn hóa trà. Hơn nữa, những trà nhân - bậc cao nhân nổi tiếng trong lịch sử như: Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Tuân, Thạch Lam… đã từng uống trà.

Những vùng trà cổ như Suối Giàng, hơn 10.000 cây trà cổ. Ông bảo nếu người dân không yêu quý sao vẫn đề nó tồn tại? Rồi dãy Hoàng Liên Sơn cũng có. Như vậy là đồ trà có, trà nhân có, chè có. Ông đã nghiên cứu, so sánh, tìm ra những nét văn hóa đặc trưng nhất của trà Việt Nam nhằm tôn vinh văn hóa uống trà của người Việt.

Tiếp nối thành công, năm 2007, tỉnh Thái Nguyên tổ chức Lễ hội Văn hóa trà Thái Nguyên lần thứ Nhất đã quy tụ được gần 100 đơn vị tham gia từ làng nghề chè, các huyện, thành, thị, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh rồi phát triển lên đến Festival trà quốc tế - Thái Nguyên Việt Nam lần thứ Nhất năm 2011. Với hàng trăm bình trà cổ đang có trong tay, ông đã chứng minh được: Việt Nam có văn hóa trà. Có cái tên Vũ Quý Nhân là do mọi người bảo ông quý ấm, nhưng ông cười nói, mình quý người hơn quý ấm. Có lẽ văn hóa trà Việt đối với ông là duyên nợ, là tâm huyết của cả đời người.

Điều đáng nói, có thể trước ông đã có nhiều người nghiên cứu về trà Việt, nhưng người tổ chức thực hiện đưa nó vào lễ hội thì có lẽ ông xứng đáng là người khởi xướng đầu tiên ở Việt Nam. Công lao của ông trong việc quảng bá hình ảnh về đất, người, chè Thái Nguyên trong suốt chặng đường đưa trà từ xóm Guộc đến Festival trà Quốc tế là không thể phủ nhận.

Giờ đây, khi đã về hưu, dù ngồi uống chè ở bất cứ đâu ông cũng có thể biết được đó là chè của vùng nào. Ông khẳng định như vậy vì đó là thói quen và một chút mẫn cảm, càng tìm hiểu lại càng đam mê và nhận thấy nhiều điều thú vị. Nói chuyện với ông dưới cái lạnh se se, tôi hiểu được ông dành nhiều thời gian, công sức cuộc đời mình vào đam mê, nghiên cứu và đưa văn hóa trà vào lễ hội.

Phương Vy

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.