Kỷ niệm 150 năm ngày sinh và 70 năm ngày mất của thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore:

Người công dân toàn cầu và chuyện tình xa xứ

Có một câu nói của Marx thường được nhiều người trích dẫn: "Tất cả những cái gì thuộc về con người đều không xa lạ đối với tôi". Thực tế, trong cuộc sống, số những con người tầm cỡ như vậy đâu có nhiều? Và, trong số hiếm hoi những người mà "Tất cả những cái gì thuộc về con người đều không xa lạ" đối với họ, tôi nghĩ tới Rabindranath Tagore (1861-1941).

Không chỉ là một nhà thơ lớn, ông còn là một nhà văn xuất sắc, một nhà tư tưởng uyên thâm, một họa sĩ, nhạc sĩ tài hoa (tác giả của ca khúc "Chúa là linh hồn của chúng sinh" hiện được dùng làm Quốc ca của Ấn Độ). Ảnh hưởng của Tagore vượt xa ngoài biên giới quê hương, dù ông sinh ra ở một đất nước có diện tích lớn và dân số đông. Đúng như nhận xét của ông Ranjit Rae, Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam trong lễ kỷ niệm 150 năm ngày sinh, 70 năm ngày mất của Tagore (tổ chức tại khách sạn Melia, Hà Nội ngày 9/11 vừa qua): "Tagore là một công dân toàn cầu", "những thông điệp của ông không chỉ áp dụng với người dân Ấn Độ mà còn mở rộng tới toàn thế giới".

Dân tộc Ấn Độ có câu ngạn ngữ rất hay: "Trước tình yêu, vua và dân như nhau". Tình yêu đã không phân chia ranh giới đẳng cấp thì tình yêu cũng xóa nhòa mọi tín ngưỡng và tôn giáo... Đến với tình yêu, ta thấy Tagore cũng "người trần" như tất cả các chàng trai khác trên thế gian. Ông khao khát được yêu, mong muốn tìm được người tri âm, thậm chí là người của một thế kỷ nào đó sau khi nhà thơ đã khuất.

Khi Tagore viết: "Anh không giấu em một điều gì/ Chính vì thế mà em không biết gì về anh cả" là ông rất sâu sắc nước đời, hiểu những điều tưởng chừng nghịch lý nhưng lại rất biện chứng của tình yêu. Và khi ông kể lại câu chuyện một cô gái đã kiên quyết gạt bỏ mọi lời tỏ tình, mọi cử chỉ âu yếm của một chàng trai, chỉ khi chàng bỏ đi thì mới giật mình thổn thức: "Ai đó, sao không trở lại?", điều ấy chứng tỏ ông rất am hiểu tâm lý người đang yêu, đặc biệt là của các thiếu nữ. Ở đây, chúng ta có thể tin lời Ilya Erenburg: "Thanh niên Ấn Độ khi yêu nhau thường đọc thơ tình của Tagore".

Thơ Tagore là vậy, còn trong đời thực, chuyện tình yêu của ông diễn ra như thế nào?

Tagore lập gia đình vào năm 24 tuổi. Vợ ông - bà Mrinalini Devi - khi ấy mới 10 tuổi, là con gái một người làm công trong trang trại của bố mẹ ông. Sau khi trở thành vợ Tagore, để bớt "giọng quê", Mrinalini được gia đình nhà chồng (vốn rất có thanh thế ở Calcutta) thuê người dạy nói tiếng Bangali. Không dừng ở đó, bà còn được gửi đến trường để học tiếng Anh, cũng như học các ngón nghề nữ công gia chánh và cách quản lý gia đình.

Mrinalini là mẹ của 5 đứa con. Bà được xem là người phụ nữ nhân hậu, luôn quan tâm đến những phận người thấp cổ bé họng. Bà rất thạo việc bếp núc, không chỉ với các món ăn truyền thống mà cả những món ăn ngoại quốc. Tagore cũng thường xuyên chia sẻ với vợ việc bếp núc, nhất là khi bà thử làm các món mà ông "đưa" từ nước ngoài về.

Mặc dù luôn yêu cầu người ăn kẻ ở phải chú ý tới y phục, nhất là phụ nữ thì phải biết ăn mặc đẹp, song trên thực tế, Mrinalini lại là người rất ít chăm chút cho cái hình thức bên ngoài của mình. Tagore từng có câu thơ "Em thế nào thì cứ thế mà đến/ Chớ có loay hoay sửa soạn áo quần". Mrinalini là một mẫu người như vậy chăng?

Thi hào Rabindranath Tagore.
Thi hào Rabindranath Tagore.

Sự thực thì mặc dù luôn nhận được tình thương yêu của chồng, song Mrinalini không phải là nàng thơ của ông. Theo nội dung những lá thư mà Tagore gửi cho vợ hiện còn lưu lại thì chủ yếu ông chỉ hỏi han việc nhà, rằng thì tình hình các con ra sao, công việc điền trang thế nào, tiền nong đủ hay thiếu? Thường thì ông không hỏi trực tiếp về Mrinalini. Ông tỏ ra "nóng tính" khi vợ chậm hồi âm. Cũng có bức thư ông thể hiện nỗi nhớ nhung với vợ: "Ta nhớ em và tự bảo với mình rằng, liệu ta có thể rời bỏ cơ thể mình để về bên em" (viết ngày 29/8/1890, khi ấy Tagore 29 tuổi, còn Mrinalina đang ở độ tuổi trăng tròn). Tuy nhiên, những lá thư lời lẽ thăng hoa, cởi mở thế này rất hiếm hoi.

Mrinalini qua đời năm 1902. Mặc dù bấy giờ Tagore mới 41 tuổi, song từ đó cho đến kết đời, ông không lập gia đình thêm một lần nào. Không cưới vợ mới, song là nhà thơ, Tagore vẫn để cảm xúc yêu đương trỗi dậy với những lý lẽ tự nhiên của nó. Lần theo các bức thư, người ta có thể thấy rất nhiều tình cảm yêu thương sau này được Tagore dành cho người phụ nữ ngoại quốc Victoria Ocampo.

Victoria Ocampo là một nữ văn sĩ Argentina, người rất có học vấn (am tường tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha), đồng thời là người tích cực đấu tranh cho sự bình đẳng của phụ nữ. Năm 1924, trong hành trình đi thăm một số nước Nam Mỹ, Tagore bị ốm và phải dừng lại nghỉ dài ngày ở Argentina. Tại đây, ông bất ngờ được bà Victoria Ocampo, một phụ nữ 34 tuổi, đã bỏ chồng, là người rất ngưỡng mộ Tagore mời đến ở tại khu biệt thự Miralro, một biệt thự đẹp nhìn ra sông Plate. Để có tiền thuê chỗ nghỉ dưỡng cho Tagore, Ocampo đã phải bán đi chiếc mũ quý có nạm kim cương. Sau này, trong hồi ký của mình, Ocampo nhớ lại: "Tôi dẫn Tagore bước vào khu biệt thự và bằng linh cảm của mình, tôi tin rằng, những vẻ đẹp sông nước mà nhà thơ nhìn thấy mỗi sớm sớm, chiều chiều từ khu biệt thự này sẽ mãi mãi đi vào ký ức của ông".

Ocampo đã rất chu đáo trong việc tạo mọi điều kiện để Tagore nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng, duy một điều bà không thực hiện nổi, ấy là ngăn trở được những con sóng tình yêu cứ ngày một cồn lên mạnh mẽ trong trái tim người đàn ông đã từ lâu góa vợ này.

Có một chuyện đáng nói là, mặc dù thường xuyên gặp nhau tại khu biệt thự, song mối quan hệ giữa Tagore và Ocampo đã có lúc bị "ngáng trở" bởi Elmhirst, thư ký riêng của Tagore trong chuyến đi này. Ocampo từng có lúc trách cứ Elmhirst là đã "giữ riệt" lấy ông chủ của mình. Còn bản thân Tagore, có lúc ông lại lầm hiểu rằng Elmhirst đã "phải lòng" Ocampo.

Tagore và Ocampo đã viết cho nhau nhiều thư. Một phần không nhỏ được thực hiện tại Argentina. Những bức thư này thể hiện một tâm lý vừa ngại ngùng vừa mong mỏi… của họ. Tuy nhiên, càng về sau, những lá thư càng thể hiện tình cảm rõ ràng hơn.

Đây là trích đoạn lá thư Ocampo viết cho Tagore trong đêm 20, rạng sáng 21/11/1924: "Ông có thể quên đi bầu trời Ấn Độ không, cả đến lúc ông không có cơ hội nhìn thấy nó thêm lần nào nữa?... Hãy để em uống cạn nỗi đau hộ ông. Em không còn gì để dâng hiến cả. Chỉ còn biết mong mỏi được làm chỗ nương tựa cho ông bằng cách chia sẻ nỗi đau với ông…".

Về phía Tagore, trong bức thư đầu tiên gửi tới Ocampo (viết ngày 14/11/1924), nhà thơ cao niên đã hé lộ đôi chút tình cảm của mình: "Thật khó để em tưởng tượng được sự cô đơn khủng khiếp tôi đang phải gánh chịu". Tuy nhiên, đến những lá thư sau này, nhà thơ đã không ngần ngại giãi bày, rằng  ông đang phải chịu cái gánh nặng của "sự nổi tiếng bất ngờ" (ý chỉ việc ông được giải thưởng Nobel văn học, trở thành nhà văn châu Á đầu tiên được nhận giải thưởng cao quý này), và nghịch lý là, trong khi "giá thị trường của tôi lên cao" thì "giá trị cá nhân của tôi bị lu mờ đi". Từ đó, ông nói cái hạnh phúc được sống lại những cảm xúc tươi nguyên của con người được "nhận món quà quý báu đến từ em", một món quà mà từ lâu ông vẫn hy vọng mình "xứng đáng được nhận". Tagore cũng cho biết, ông rất hạnh phúc vì thấy Ocampo "quý mến" ông vì "con người đích thực" của ông chứ không phải vì thứ "vinh quang phù phiếm" mà người ta quàng cho ông.

Từ đó cho tới khi Tagore về Ấn Độ, và mãi những năm tháng sau này, hai người vẫn tiếp tục viết thư cho nhau. Hai năm trước khi mất, trong bức thư gửi Ocampo, Tagore vẫn không quên nhắc lại những kỷ niệm đẹp của tháng ngày ông sống tại biệt thự Miralro: "Có lẽ em cần biết là, ký ức về những ngày đầy ánh nắng và sự săn sóc dịu dàng của em đã là nguồn cảm hứng cho một số bài thơ của tôi, và đó là những bài thơ hay nhất, với những vẻ đẹp thoáng qua mà tôi đã kịp nắm bắt được". 

Sau này, trong một tập thơ có tên gọi "Puravi" của Tagore, người ta bắt gặp dòng chữ đề tặng một người tên là Vijaya. Theo các nhà nghiên cứu thì Vijaya là một cái tên Ấn Độ mà nhà thơ dùng để gọi "nàng thơ" Victoria Ocampo của mình

Lưu Thanh Minh

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.