Nghệ sĩ Năm Phỉ: Người đàn bà tài hoa bạc mệnh

Được coi là thần tượng của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng, được đánh giá là "đệ nhất của sân khấu cải lương", song cuộc đời của nghệ sĩ Năm Phỉ gần như là một minh chứng cho cái mà cổ nhân gọi là "tài hoa bạc mệnh"...

Lấy chồng và chồng mất chỉ sau mấy năm chung sống, Năm Phỉ đi bước nữa. Nhưng lần này, với người chồng mới, bà cũng chỉ gắn bó được ít năm rồi thì "đường ai nấy đi", để mặc ông quay sang tái giá với cô em gái ruột của mình là Bảy Nam (tức NSND Bảy Nam sau này). Không con và cứ thế một thân một mình cho tới khi qua đời vì bạo bệnh ở tuổi 48, nghệ sĩ Năm Phỉ đã để lại muôn vàn sự tiếc thương và luyến nhớ của cả khán giả lẫn các đồng nghiệp...

Nghệ sĩ Năm Phỉ tên thật là Lê Thị Phỉ. Bà sinh năm 1906 tại Mỹ Tho, nơi được xem là cái nôi của nghệ thuật cải lương. Cụ thân sinh ra bà là một kỹ sư cầu cống, họ Lê tên Công, vốn là người thích chữ nghĩa nên đã chọn câu "Công Thành Danh Toại, Phỉ Chí Nam Nhi, Bia Truyền Tạc Để" để đặt tên cho 11 người con của mình. Sau này, thật lạ là cùng với Năm Phỉ, một số người con khác của ông như Bảy Nam, Chín Bia, Mười Truyền đều trở thành những nghệ sĩ thành danh trong lĩnh vực cải lương và kịch nghệ.

Ông Công là người rất dị ứng với nghề hát xướng múa may mua vui cho thiên hạ. Vậy nhưng Năm Phỉ lại đến với loại hình nghệ thuật này từ khi mới 10 tuổi. Lòng đam mê nghệ thuật của cô còn được người mẹ hết lòng cổ vũ khiến ông kỹ sư cầu cống càng thêm phẫn uất. Ngăn không được, ông xem như từ mặt Năm Phỉ. Thậm chí, ông cấm mọi người trong nhà nhắc tới Năm Phỉ. Tuy vậy, sự say mê sân khấu cải lương của Năm Phỉ đã ảnh hưởng tích cực tới mấy người em sau này của bà. Không dưng mà ở giai đoạn cuối đời, khi có phóng viên đặt câu hỏi với NSND Bảy Nam, bà lấy ai làm thần tượng, bà Bảy Nam đã nói không chút suy tính: Đó là Năm Phỉ, chị ruột của bà. 

Như trên đã nói, Năm Phỉ đến với sân khấu cải lương từ rất sớm, lúc bà mới 10 tuổi. Ở tuổi này, bà chưa kịp học lấy con chữ, chỉ biết ký mỗi cái tên. Điều đặc biệt là tuy học vấn thấp đến như vậy, song bà lại được trời phú cho một trí nhớ phi phàm. Những lần tập vở, chỉ cần nghe ai đó đọc qua một lượt là bà đã thuộc. Có một giai thoại: Dù bận tiếp khách song Năm Phỉ vẫn để tai lắng nghe người ta đọc vở tuồng. Và khi khách ra về thì cũng là lúc bà thuộc lời thoại của vở diễn.

Năm Phỉ thoát ly gia đình khi mới 11 tuổi. Bà theo đi biểu diễn với gánh hát Nam Đồng Ban do các ông Hai Cu, Hai Quản lập ra. Tại đây, khi chưa bước vào tuổi thanh nữ, bà đã kết duyên với nghệ sĩ Hai Giỏi, người chuyên đóng các vai kép chính. Hai Giỏi sớm khẳng định được tài năng của mình trước bàn dân thiên hạ, song ông lại là người đoản mệnh. Cái chết đến quá sớm không chỉ cắt ngang một sự nghiệp đầy hứa hẹn mà còn đẩy người vợ trẻ (khi ấy vẫn đang ở tuổi vị thành niên) vào cảnh góa bụa. Nhưng Năm Phỉ là người giàu nghị lực. Bà một mình tiếp tục trên con đường nghệ thuật đầy gian khó… Một thời gian sau khi Hai Giỏi qua đời, gánh Nam Đồng Ban tan rã. Năm Phỉ chuyển sang hát cho gánh Tái Đồng Ban. Tới năm 1926, đến lượt gánh Tái Đồng Ban cũng lại giải thể. Năm Phỉ đành  chuyển sang hát cho gánh Hí Văn Ban của ông Huỳnh Văn Vui và tiếp đó là cho gánh Phước Cương.

Sau này, NSND Phùng Há, một người luôn xem là "đàn em" của "chị Năm Phỉ" đã tiết lộ: "Tôi theo gánh Tái Đồng Ban được anh Tư Chơi dạy tôi ca. Ông Năm Mạnh và anh Năm Châu dạy tôi hát. Sau này tôi mới biết, do chị Năm Phỉ không về được Tái Đồng Ban nên ông bầu Hai mới tìm người hát chung với anh Năm Châu. Tôi may mắn mới được thế chị Năm Phỉ". Điều ấy cho thấy, Năm Phỉ rất có giá trong con mắt của các ông bầu gánh hát thuở ấy.

Tại gánh Phước Cương, Năm Phỉ có nhiều cơ hội trổ tài và với những vở diễn của gánh hát này, tên tuổi của Năm Phỉ đã đến được với đông đảo khán giả Nam Kỳ cũng như được một số khán giả ở Pháp quốc biết tới. Với chất giọng hơi khàn khàn ẩn chứa trong một vóc dáng mảnh mai nhưng đầy cá tính, Năm Phỉ đã thể hiện xuất sắc các vai diễn: từ Lý Ngọc Nương (vở "Trà hoa nữ"), Bàng Quý Phi (vở "Xử án Bàng Quý Phi"), Điêu Thuyền (vở "Lã Bố hý Điêu Thuyền"), Mộng Hoa (vở "Mộng Hoa nương"), Lan (vở "Lan và Điệp")… Đặc biệt, với vai Bàng Quý Phi, năm 1931, nghệ sĩ Năm Phỉ đã cùng nghệ sĩ Bảy Nhiêu (vai Tống Chơn Tôn) được gánh Phước Cương đưa sang Paris trình diễn vở "Xử án Bàng Quý Phi" nhân dịp đấu xảo. Tại đây, vở diễn đã được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt. Riêng với vai diễn của mình, Năm Phỉ đã nhận về 4 huy chương. Có gần hai trăm lá thư của người mến mộ gửi tới nghệ sĩ Năm Phỉ bày tỏ sự cảm mến, trên bốn chục tờ báo có bài bình luận, khen ngợi vở diễn. Ngoài những phần thưởng mang ý nghĩa động viên tinh thần, cá nhân nghệ sĩ Năm Phỉ còn nhận được một khoản thù lao hậu hĩnh, tương đương với hàng ngàn lượng vàng thời bấy giờ. Vở "Xử án Bàng Quý Phi" sau đó còn được công diễn tại nhiều nơi và trở thành một trong số những vở diễn có doanh thu và tần suất biểu diễn cao nhất trong lịch sử sân khấu cải lương Việt Nam .

Trở lại với chuyện đời tư của nghệ sĩ Năm Phỉ. Trong quá trình tham gia gánh Phước Cương, cũng như trước đây, cái duyên nghề nghiệp đã lại đưa đẩy Năm Phỉ gắn bó tình cảm với một người của gánh hát. Lần này không phải là một bạn diễn mà là… ông bầu của gánh hát - ông Nguyễn Ngọc Cương. Hai người nên vợ nên chồng và một thời gian, đây được xem là cuộc hôn nhân lý tưởng bởi cả hai đều là những người tài năng, danh giá và đang chung lưng góp vốn nhằm mở mang sự nghiệp và cùng chí hướng thúc đẩy sự phát triển của nền nghệ thuật cải lương nước nhà. Nhưng rồi, được ít năm thì giữa họ bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn gay gắt, buộc phải giải quyết bằng một cuộc ly hôn. Và khi ông Nguyễn Ngọc Cương chính thức tái hôn với nghệ sĩ Bảy Nam - em gái Năm Phỉ - thì Năm Phỉ dứt khoát chia tay gánh hát để thành lập Đoàn cải lương mang tên mình. Các nhà nghiên cứu nghệ thuật từng có những phân tích xác đáng về sự khác biệt giữa hai chị em Năm Phỉ - Bảy Nam và nhận thấy, đó gần như là hai đối cực. Năm Phỉ đến và thu hút khán giả bằng một uy lực gần như choáng ngợp, trong khi Bảy Nam lại chinh phục khán giả một cách dè dặt, lặng lẽ. Năm Phỉ thích là làm, không thích là tung hê, còn Bảy Nam thì lại com cóp góp nhặt từng vai diễn bình dị để làm nên sự nghiệp… Tuy nhiên, không vì sự khác biệt ấy mà Bảy Nam không thấy được ảnh hưởng to lớn của người chị đối với mình. Trước sau, bà luôn xem Năm Phỉ là một thần tượng. Nhân đây, cũng cần nói thêm: NSƯT Kim Cương chính là sản phẩm của cuộc hôn nhân nhiều "trái khoáy" giữa NSND Bảy Nam và ông Nguyễn Ngọc Cương. Nghĩa là, chị vừa là cháu gái của nghệ sĩ Năm Phỉ, vừa là con gái của chồng cũ của Năm Phỉ. Nghệ sĩ Năm Phỉ đã dồn nhiều tình yêu thương để "truyền nghề" cho người cháu này. Và trong thực tế, giữa Kim Cương và Năm Phỉ có nhiều nét tương đồng, không chỉ về tính cách mà cả trong phong thái biểu diễn…

Nghệ sĩ Năm Phỉ qua đời vì bạo bệnh ngày 2/6/1954, khi mới ở tuổi 48. Cái chết của bà đã gây sốc cho bạn bè, người thân. Nghệ sĩ Phùng Há bấy giờ đang biểu diễn ở Long Xuyên. Khi nhận được hung tin nghệ sĩ Năm Phỉ mất, Phùng Há đã ngất xỉu. Cũng liên quan tới sự kiện này, cách đây mấy tháng, một tờ báo đã ghi lại chuyện kể của soạn giả Nguyễn Phương như sau: Ngày Năm Phỉ mất, người đến viếng đã được chứng kiến cảnh nhạc sĩ Chín Trích đàn ròng rã mấy ngày liền bên quan tài người quá cố, vừa đàn vừa khóc. Đến khi chuẩn bị làm lễ di quan, ông đã tới lạy lần chót bên quan tài nghệ sĩ Năm Phỉ rồi khóc lớn: "Cô Năm đã mất rồi, từ nay Chín Trích sẽ không còn đờn cho ai ca nữa". Nói xong, ông đập vỡ cây đàn. Để ghi nhận tình cảm của nhạc sĩ Chín Trích, khi hạ huyệt, người nhà của nghệ sĩ Năm Phỉ đã cho chôn trong mộ phần của bà cây đàn gãy này.

Sinh thời, Năm Phỉ từng là một trong những nghệ sĩ đầu tiên được Vua Bảo Đại tặng Huy chương Kim Tiền. Trong các chuyến lưu diễn tại nước ngoài (như Pháp, Lào, Thái Lan, Campuchia…), bà cũng nhận được nhiều huy chương. Tuy nhiên, có lẽ với bà, không gì vinh dự bằng các "giải thưởng" do khán giả mến mộ dành tặng cho bà, mà cách hành xử đầy xúc động của nhạc sĩ Chín Trích là một ví dụ. Thật đúng như Giáo sư Hoàng Như Mai từng nhận định: "Bà là nghệ sĩ tài hoa bậc nhất của sân khấu cải lương. Đó là một tài năng đa dạng, đã chinh phục được cảm tình của tất cả khán giả". Lại nhớ, khi NSND Thanh Nga - bấy giờ còn là một diễn viên trẻ - được giải Thanh Tâm triển vọng, báo chí đã không tiếc lời tôn vinh chị, trong đó, có một câu cho thấy vị trí của nghệ sĩ Năm Phỉ trong lòng họ cao đến mức nào. Ấy là khi các nhà báo cho rằng, từ khi nghệ sĩ Năm Phỉ mất đến thời điểm ấy, sân khấu cải lương mới lại xuất hiện một nữ diễn viên "vừa hát hay, diễn giỏi, vừa hấp dẫn về sắc vóc đến vậy"

Dương Đức

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.