Nghe “cụ Lý” Đỗ Chu kể chuyện làng văn

Đỗ Chu là một trong số ít các văn tài đặc biệt của xứ Bắc Hà, một số truyện ngắn và bút ký của ông được xếp vào hạng “đặc sản” truyền kỳ của dòng văn chương lịch lãm, thâm thúy suốt mấy chục năm qua. Về sự nổi tiếng, có lẽ ông chỉ thua kém nhà văn tiền bối Nguyễn Tuân có vài bậc. Mấy năm gần đây, một số bạn văn bảo tôi: “Xem chừng ông Đỗ Chu dạo này đang “giả đò” sắm vai “cụ lý” của làng văn để bỡn cợt, hài hước với mọi nhân vật, mọi sự kiện của văn chương đương đại”.

Mới đầu, tôi cũng thấy ngạc nhiên về nhận xét đó. Nhưng qua đôi ba lần tiếp xúc với nhà văn Đỗ Chu gần đây, tôi chợt thấy, hình như ông cũng có vẻ thích thú với hình ảnh “cụ lý” trong làng văn của mình.

Cách đây vài năm, trong lần đi dự “Hội thảo Văn học Việt - Mỹ sau chiến tranh” ở khu Resort  Kim Bôi, Hòa Bình, tôi thấy “cụ lý” Đỗ Chu khá sang trọng trong bộ quần áo cổ tròn, khuy vải kiểu Lỗ Tấn, chống ba-tong thong thả đi dạo chơi khắp khu bể bơi “nóng-lạnh” của khu resort. Không hiểu lúc ấy “cụ lý” có chịu “ngắm” các em “dáng ngọc mình ngà” đang hớn hở vầy vò dưới nước hay không mà gương mặt cụ vẫn đăm đăm khó chịu như ra vẻ không hài lòng về chuyện gì đó. Chỉ riêng cặp kính đít chai trên mắt cụ là còn hấp háy một vẻ tinh quái rất khác thường khi nhìn chị em nô đùa bơi lội.

Tôi trêu chọc Đỗ Chu: “Nhìn cụ lý đeo cặp kính ấy trông đẹp lão theo kiểu “gián điệp” lắm, may mà là thời bình, chứ nếu trong thời chiến tranh, cụ cứ ra khỏi nhà là sẽ bị bắt giữ luôn tức thì, không bị ta bắt thì cũng bị địch bắt, cụ nhỉ!”. Đỗ Chu lườm tôi, cười hóm hỉnh: “Có bắt mấy thằng hay nói láo như mày thì có, chứ ông trông “đẹp rai” thế này mà mày bảo ông là “gián điệp”, mày nói thế thì mấy em dưới bể bơi kia nó coi cánh đàn ông văn chương chúng mình còn ra cái gì”.

Tối hôm ấy, sau khi dự hội thảo “Văn học Việt-Mỹ sau chiến tranh” ở khu Resort Kim Bôi, Hòa Bình về đến phòng nghỉ, nhà văn Đỗ Chu bắt phạt tôi bằng cách bảo phải đấm bóp, tẩm quất cho cụ. Tôi thú thật, từ bé đến giờ không biết tẩm quất là gì, nếu tôi mà “đấm” thì chắc chắn cụ chỉ có mà “om xương”.

Nhà văn Đỗ Chu chán nản: “Mày đúng là đồ vô tích sự, chỉ được cái láo toét là không ai bằng!”, rồi  lồm cồm bò dậy, ngồi kể chuyện phiếm cho chúng tôi nghe. Tôi có cảm giác, khi Đỗ Chu kể chuyện, ông trở thành một nhà "độc tài" bảo thủ, ông chỉ cho phép mỗi mình ông nói và không bắt tay ai trong lúc kể chuyện.

Có nhiều hôm, tôi gặp "cụ lý" Đỗ Chu ngồi uống nước chè, hút thuốc lào vặt và kể chuyện phiếm “miễn phí” ở phòng làm việc của Tạp chí Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam tại số 9 Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội. Hình như đến Tạp chí Thơ mà không gặp Đỗ Chu là thấy buồn hẳn. Theo tôi, nếu Hội Nhà văn Việt Nam mở cuộc thi kể chuyện khôi hài hấp dẫn về làng văn ở nước ta bây giờ, có lẽ khó ai theo kịp được Đỗ Chu. Đầu ông thì bé như "quả trứng bẹp" mà chứa bên trong cả một kho tàng linh tinh mục đủ các thứ chuyện trên giời, dưới bể, chuyện văn chương, chuyện thế sự, chuyện xã hội, chuyện thành thị, chuyện làng quê, chuyện quá khứ, chuyện tương lai v.v… chuyện nào cũng độc đáo, khôi hài cả.

Có người biết khá nhiều chuyện bếp núc thú vị về làng văn ở nước ta, nhưng lúc kể ra, không hiểu sao cứ thấy nhạt phèo. Còn nếu chuyện ấy mà được nghe Đỗ Chu kể thì chắc chắn nó lại mang một phong vị khác hẳn. Cái hấp dẫn ấy có lẽ cũng là do cái cách kể chuyện thong thả, nhâm nhi, nhấn nhá các tình tiết quan trọng với vẻ mặt đặc biệt rất hóm hỉnh của Đỗ Chu. Lúc ấy, con mắt tinh ranh của ông nấp sau cặp kính dày cộp, tròn xoe giống đít chai, cứ như muốn nhảy xổ ra, chụp lấy người nghe mà đè sấp xuống, và bảo rằng: "Chuyện ông kể là chuyện thật một trăm phần trăm, ông nghe chúng nó kể, rồi ông kể lại cho chúng mày nghe ở một cấp độ hay hơn nhiều cái sự thật giản đơn lúc ban đầu". Rồi Đỗ Chu cười, nụ cười mới thật sung sướng, rạng rỡ, hể hả làm sao.

Đêm ấy Đỗ Chu kể cho các bạn văn nghe nhiều chuyện trên giời dưới bể, nhưng tôi thấy thú vị nhất là chuyện nhà văn Võ Quảng hồi đầu Cách mạng Tháng Tám phải đi áp tải vàng từ miền Trung ra Thủ đô Hà Nội cho Chính phủ lâm thời.

Đỗ Chu nhẩn nha: “Về cái khoản phát động dân vận thì nhất mấy ông cách mạng và cũng không có ai yêu nước hồn nhiên như dân tộc mình. Ngày đầu cách mạng giành chính quyền từ tay Pháp-Nhật, Chính phủ ta lấy đâu tiền mà tiêu, nên đã tổ chức “Tuần lễ vàng” vận động các gia đình phú thương và người dân cả nước quyên góp tiền vàng cho chính quyền cách mạng. Người dân cả nước từ người giàu đến người không giàu đều nô nức “cởi hầu bao” quyên góp cho cách mạng”.

Sau khi rít một hơi thuốc lào, Đỗ Chu kể tiếp: “Thời điểm ấy, sau “Tuần lễ vàng” ở Đà Nẵng, nhà văn Võ Quảng, đang là Phó Chủ tịch TP Đà Nẵng được tin tưởng giao cho nhiệm vụ chỉ huy chiếc xe ôtô áp tải mấy bao tải vàng do đồng bào miền Trung quyên góp mang ra Hà Nội. Cứ liên tưởng đến chuyện các binh tướng nhà Tống khi xưa áp tải vàng từ tỉnh xa về kinh đô toàn bị các hảo hán “thăm hỏi” trong tiểu thuyết “Thủy Hử” của Tàu là ông Võ Quảng lại giật thót mình, cả đêm vã mồ hôi.

Biết đâu, trên ngàn dặm đường từ miền Trung ra Bắc, chiếc xe ôtô áp tải vàng do ông chỉ huy lại gặp phải 108 anh hùng kiểu Lương Sơn Bạc thì thậm nguy cho cách mạng. Bởi thế, Võ Quảng yêu cầu lái xe chạy thẳng một mạch suốt ngày đêm ra Hà Nội và không cho phép dừng lại bất kỳ một chỗ nào dọc đường. Lương khô, nước uống mang theo đủ chi dùng cho những người trên xe.

Võ Quảng phân công, hai người bảo vệ ngồi trên luôn luôn sẵn sàng súng đạn để đối phó với cướp đường, hai người lái xe thay nhau lái và cứ việc cắm đầu phóng cho thật nhanh, còn ông thì lăm lăm cầm súng ngắn trông coi mấy bao tải vàng.

Trong suốt chuyến đi ấy, Võ Quảng yêu cầu “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, không cho phép một ai được rời khỏi xe. Vậy là những người áp tải vàng phải ăn, ngủ, nghỉ và cả… tiểu tiện ngay trên xe. Võ Quảng có sáng kiến dùng một chiếc ấm đun nước thật to để chứa nước giải và vừa đi vừa thải bậy ra đường. Chỉ sau có hơn một ngày, chiếc xe áp tải vàng bê bết bùn đất do nhà văn Võ Quảng chỉ huy đã ra tới Hà Nội an toàn và đích thân ông còn tới gặp lãnh đạo Chính phủ lâm thời để cân đong và giao lại số vàng nói trên”.

Giải thích với Đỗ Chu về chuyến đi ấy, ông Võ Quảng cho biết, sở dĩ không dám cho xe dừng lại dọc đường vì sợ tin tức về việc vận chuyển vàng bị lộ lọt, đến tai những “thảo khấu” ở các địa phương dọc đường ra Bắc, sẽ sinh nhiều chuyện chẳng lành. Khi tôi thắc mắc, Đỗ Chu trừng mắt nhìn tôi, bảo: “Ông Võ Quảng chỉ cho phép lính “tiểu tiện” vào ấm và dọa “Nếu dừng lại dọc đường sẽ gặp cướp ngay” làm mấy chú lính trẻ sợ vãi linh hồn, chỉ dám uống nước lã cầm hơi và nhai trệu trạo ít lương khô cho đỡ đói.

Và trong chuyến đi ấy, họ phải “nhịn” đủ mọi thứ cho tới khi ra tới Thủ đô mới được “xả hàng”. Đỗ Chu chép miệng nói tiếp: “Giả sử, nếu bây giờ Nhà nước kêu gọi ủng hộ “Tuần lễ vàng”, các chú có về bảo vợ, con “mở hầu bao” ra quyên góp không? Chắc là cả đám lại chạy “mất dép” ngay, thế thì các chú yêu nước, yêu dân cái nỗi gì. Thế mới biết dân ta hồi ấy yêu nước hồn nhiên lắm, chứ không tính toán như các chú bây giờ”.

Ở tuổi “Thất thập cổ lai hy”, không hiểu vì nguyên cớ gì, nhà văn nổi tiếng Đỗ Chu lại muốn trở thành “nhà thơ trẻ”. Dạo này ông chăm làm thơ lắm và tôi đã không ít lần bị ông “tra vấn” bằng thơ. Có điều khá lạ, không hiểu vì sao vốn là một nhà văn xuôi nổi tiếng, nhưng ông không ít lần tỏ ra “coi thường” người viết văn xuôi và thường “ngả mũ” khâm phục người làm thơ.

Có lần Đỗ Chu nheo mắt, ví von so sánh, bảo với mấy nhà thơ chúng tôi đang ngồi xung quanh hóng chuyện ông: “Thi ca nó sang trọng lắm chứ, nó như viên ngọc quý lấp lánh trên vương miện của nữ hoàng văn chương. Nó hơn hẳn cái anh văn xuôi cứ phải hì hục viết suốt ngày, suốt đêm đến ho lao, thối phổi. Tôi kính trọng người làm thơ vô cùng. Các cậu cứ nhìn xem, Ban chấp hành Hội Nhà văn của ta bây giờ có 6 ông thì có tới 4 ông làm thơ. Vậy tớ chuyển sang làm thơ là tính chuyện sẽ vào Ban chấp hành Hội khóa tới, hiểu chưa!”.

Cũng với vẻ mặt nghiêm trọng, Đỗ Chu hóm hỉnh nói: "Các cậu đừng tưởng bở chỉ có các cậu mới là nhà thơ chính hiệu đâu nhé. Tất cả cánh viết văn xuôi chúng tớ, thằng nào thằng ấy cũng đều âm thầm quyết liệt làm thơ ngay từ lúc chưa làm văn xuôi. Tớ cũng làm thơ từ rất lâu rồi, trường ca, đoản ca, độc ca… tớ đều viết cả, chỉ có cái chưa bao giờ thèm in ra thôi! Vì thật ra, thơ của tớ cũng không có gì hay ho hơn thơ của các cậu. Vả lại, có in ra, nó cũng không đóng góp gì được cho sự phát triển của nền thi ca hiện đại, nên tớ đếch thèm in cho các cậu biết tay. Chuyện tớ làm thơ, “cu” Oanh (nhà thơ Ngô Thế Oanh), “cu” Mậu (nhà thơ Nguyễn Đức Mậu) đều biết cả đấy chứ. Tớ chỉ cho phép các "cu" thơ ấy đọc thơ của tớ để biết tài thơ của tớ mà thôi, chứ dứt khoát tớ không cho in!". Chúng tôi được một mẻ cười nghiêng ngả.

Tôi chất vấn: "Tại sao bác lại gọi mấy nhà thơ là cu nọ, cu kia, thế bác không sợ các nhà thơ phật lòng à?". Đỗ Chu cười toác loác, phân giải: "Tao yêu lắm lắm thì tao mới gọi chúng nó là mấy thằng cu chứ! Chúng nó hồn nhiên thành thực dâng hiến cả cuộc đời cho nàng thơ sang trọng. Thế thì làm sao tao lại không yêu mấy thằng cu ấy được nhỉ. Mày cũng là một thằng cu thơ đáng yêu đấy, em nhé!". Đỗ Chu lại tít mắt cười. 

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.