Mỹ và tham vọng căn cứ quân sự trên mặt trăng

Vào những năm 1950, Mỹ đã nghiêm túc xem xét ý định xây dựng một căn cứ quân sự trên Mặt trăng. Lý do mà Phó Tổng thống Mỹ Lyndon Baines Johnson khi đó vạch ra kế hoạch này là lo ngại người Liên Xô có thể đáp xuống mặt trăng năm 1967.

Tham vọng mặt trăng

Chừng 22 giờ 30 ngày 4-10-1957, Liên Xô đã phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên của thế giới Sputnik vào quỹ đạo Trái đất. Sputnik chỉ là một khối cầu kim loại được gắn một vài ăng-ten, không to hơn một quả bóng rổ là mấy. Tất cả những gì mà Sputnik làm là gửi tín hiệu radio về Trái đất.

Thế nhưng, tín hiệu này đi qua nước Mỹ vài lần mỗi ngày và Mỹ không thể làm gì. Người Mỹ cho rằng các tên lửa Liên Xô mang theo những vệ tinh như Sputnik vào quỹ đạo một ngày nào đó có thể được sử dụng để phóng vũ khí hạt nhân vào Mỹ.

Cả Mỹ và Liên Xô đều từng tham vọng xây căn cứ quân sự trên Mặt trăng.
Cả Mỹ và Liên Xô đều từng tham vọng xây căn cứ quân sự trên Mặt trăng.

Người Liên Xô chưa dừng tại đó. Một tháng sau, họ kỷ niệm 10 năm cuộc cách mạng Tháng Mười bằng cách đưa một con chó vào quỹ đạo trên Sputnik 2. Họ dự báo các nhà du hành vũ trụ Liên Xô sẽ ăn mừng 50 năm cách mạng Tháng Mười trên Mặt trăng năm 1967.

Các nhà phân tích tình báo Mỹ nghiên cứu chương trình vũ trụ bí mật của Liên Xô lo ngại người Liên Xô có thể đáp xuống Mặt trăng năm 1967. Họ lo ngại Liên Xô sẽ tuyên bố Mặt trăng là lãnh thổ. Họ thậm chí còn tính đến khả năng Liên Xô thiết lập một căn cứ quân sự trên Mặt trăng và khiến Mỹ không có cách nào phòng vệ.

Trước viễn cảnh đó, giới chức Mỹ quyết định sẽ lên Mặt trăng và xây một căn cứ trước Liên Xô. Một khi làm được điều này, Mỹ có thể tự quyết định có đưa tên lửa lên đó hay không, hay có cho Liên Xô đáp xuống và xây căn cứ trên Mặt trăng hay không.

Trưởng nhóm nghiên cứu và phát triển dự án này của quân đội Mỹ, Trung tướng Arthur Trudeau, đánh giá hồi tháng 3-1959: “Căn cứ trên Mặt trăng này cần thiết để bảo vệ lợi ích Mỹ trên Mặt trăng... để Mỹ có thể bác bỏ tuyên bố chủ quyền, công nghệ và thương mại của Liên Xô”. Ông đã ra lệnh cho ban quân nhu phát triển một kế hoạch thiết lập căn cứ trên Mặt trăng càng nhanh càng tốt. Hai tháng sau, báo cáo “Dự án Đường chân trời” (Project Horizon) đã xuất hiện trên bàn của ông Trudeau.

Một trong những khả năng đầu tiên được tính đến là đưa các nhà du hành lên Mặt trăng để tìm các “hố hoặc hang” có thể dùng túi áp suất che và bịt kín nhằm tạo ra mặt căn cứ. Tuy nhiên, các tác giả của “Dự án Đường chân trời” đề xuất một ý tưởng tham vọng hơn nhiều.

Kế hoạch xây căn cứ

Theo đó, trong giai đoạn một từ tháng 1-1965, các tên lửa không người lái đầu tiên mang theo trang thiết bị, nguyên vật liệu cần để xây căn cứ sẽ được phóng lên Mặt trăng. Khi nguyên vật liệu đã tới Mặt trăng, hai phi hành gia sẽ được đưa lên để xác nhận rằng mọi thứ đã hạ cánh an toàn. Bất kỳ nguyên vật liệu nào bị hư hỏng sẽ được thay thế trong các đợt phóng tên lửa tiếp theo.

Hai phi hành gia này cũng sẽ xác minh khu vực được chọn để xây căn cứ có phù hợp hay không. Nếu không, họ sẽ tìm các khu vực khác. Tác giả dự án ước tính hai phi hành gia sẽ mất từ 30 đến 90 ngày để hoàn thành nhiệm vụ. Sau đó, họ sẽ trở về Trái đất. Khi ở trên Mặt trăng, họ sẽ sống trong khoang của thiết bị hạ cánh xuống Mặt trăng.

Trong giai đoạn hai, tức sáu tháng sau đó, sau khi mọi thứ đều đã đâu vào đấy, một đội xây dựng gồm 9 phi hành gia sẽ được đưa lên Mặt trăng để tháo dỡ nguyên vật liệu và bắt đầu lắp ráp căn cứ. Khu vực đầu tiên sẽ là khu trại xây dựng để họ sống trong khi xây căn cứ. Các khu nhà cơ bản của cả trại xây dựng và căn cứ sẽ là các “phòng ở” được lắp đặt từ các khối nguyên vật liệu có sẵn.

Các “phòng ở” sẽ được làm từ thùng kim loại hình trụ đường kính 3 mét, dài 6 mét, tương đương kích thước một container. Thay vì đặt thùng kim loại trên bề mặt Mặt trăng, các tác giả đề xuất hạ thùng xuống một hào mà các nhà du hành đào bằng xe ủi đất hoặc thuốc nổ.

Khi các “phòng ở” đã được kết nối với nhau trong hào và các thiết bị hỗ trợ cuộc sống trên Mặt trăng hoạt động trơn tru, các du hành gia sẽ đào đất trên Mặt trăng và chôn căn cứ. Lý do là để bảo vệ các nhà du hành khỏi bị phơi nhiễm phóng xạ, cũng như bảo vệ căn cứ khỏi sự thay đổi lớn về nhiệt độ.

Trên Mặt trăng, bề mặt có thể nóng tới 126 độ C vào ban ngày và tụt xuống -137 độ C vào ban đêm. Che phủ căn cứ cũng là để bảo vệ căn cứ khỏi các thiên thạch nhỏ. Trên Trái đất, thiên thạch nhỏ bị đốt cháy trong khí quyển và trở thành sao băng nên ít khi va vào bề mặt Trái đất. Mặt trăng không có khí quyển đặc như vậy để đốt cháy thiên thạch nên chúng sẽ va vào bề mặt.

Trong giai đoạn ba, sau khi các phi hành gia lắp ghép xong trại xây dựng, họ sẽ bắt đầu lắp ghép phần chính của căn cứ bằng cách đào một hào dài hơn ở góc 90 độ so với hào đầu tiên. Các “phòng ở” còn lại sẽ được lắp đặt và chôn trong hào này.

Khi hoàn tất công việc, các phi hành gia sẽ di chuyển vào khu vực sống và biến trại xây dựng thành phòng thí nghiệm. Năng lượng sẽ do hai lò phản ứng hạt nhân cung cấp và hai lò này sẽ được chôn ở khoảng cách an toàn so với căn cứ. Các tác giả dự án ước tính căn cứ sẽ hoàn tất vào tháng 11-1966, sẵn sàng cho đội luân phiên gồm 12 phi hành gia tới ở, mỗi người có “nhiệm kỳ” một năm.

Nhóm dự án cũng tính tới ngày mà các tên lửa hạt nhân Mỹ có thể được lắp đặt tại căn cứ và chĩa vào Liên Xô. Căn cứ này sẽ được dùng để phòng vệ trước các cuộc tấn công của Liên Xô và do đó phải có loại vũ khí cần thiết để bảo vệ căn cứ.

Theo nhóm dự án, cần phải phát triển một loại vũ khí kiểu súng ngắn, được thiết kế để có thể hoạt động trong không gian gần như chân không nhằm chống lại các phi hành gia Liên Xô ở cự ly gần. Tại khoảng cách gần, ngắm vũ khí vào mục tiêu không phải là vấn đề. Tuy nhiên, ở khoảng cách xa, thì việc ngắm bắn trong khi phải mặc một bộ trang phục du hành vũ trụ cồng kềnh là điều khó khăn.

Vì lý do đó, các tác giả dự án quyết định rằng vũ khí bắn một loạt mảnh kim loại hoặc đạn ra một khu vực rộng sẽ hiệu quả hơn là súng chỉ bắn một viên đạn một lần. Trong chương ba của Dự án Đường chân trời, các tác giả kèm theo hình minh họa một mẫu súng cầm tay trông giống như một đĩa TV vệ tinh gắn vào cán chổi quét nhà.

Ngoài ra, còn có một hình minh họa một thiết bị nạp đạn chì có thể được đặt trên mặt đất, chĩa vào kẻ thù, bắn bằng một cò súng điện tử. Nhóm tác giả dự án cũng đề xuất phát triển một “tia tử thần” gồm một tia phóng xạ neutron hoặc gamma được bắn từ một thiết bị gọi là máy gia tốc điện tử. Ngoài ra, họ còn đề xuất phát triển nhiều loại vũ khí nữa.

Hình ảnh phi hành gia người Mỹ Neil Armstrong đặt chân lên Mặt trăng.
Hình ảnh phi hành gia người Mỹ Neil Armstrong đặt chân lên Mặt trăng.

Kế hoạch đổ bể

Theo ước tính, xây dựng căn cứ và tiếp tế cho căn cứ đến cuối năm 1967 (tức là một năm hoạt động) sẽ cần thực hiện ít nhất 229 vụ phóng tên lửa lên Mặt trăng, tức là mỗi tuần rưỡi lại có một chuyến trong suốt gần 3 năm. Họ ước tính chương trình sẽ tốn 6 tỷ USD, tương đương 50 tỷ USD ngày nay, cộng thêm 25 triệu USD nữa để phát triển các vũ khí để sử dụng bảo vệ căn cứ. Đó là một khoản tiền khổng lồ vào năm 1959 nhưng theo các tác giả, số tiền này chỉ chiếm chưa đầy 2% ngân sách quốc phòng hằng năm.

Họ cảnh báo nếu Mỹ chờ tới khi có bằng chứng chắc chắn rằng Liên Xô đang lên kế hoạch xây căn cứ trên Mặt trăng mới khởi động dự án vội vã để đánh bại thì sẽ có nguy cơ thất bại và chi phí tăng gấp bội.

Thật may với người đóng thuế Mỹ là quân đội Mỹ không bao giờ “bật đèn xanh” cho việc xây căn cứ trên Mặt trăng vì ước tính chi phí là quá thấp. Chương trình Apollo có quy mô đơn giản hơn nhiều với chỉ 6 vụ đáp xuống Mặt trăng từ năm 1969 tới 1972 và một vụ đáp thất bại mà đã tốn tới 25 tỷ USD, tức 209 tỷ USD thời nay. Từ thực tế đó, chi phí cho 229 vụ đáp xuống Mặt trăng sẽ lớn khủng khiếp.

Người dập tắt ý định xây căn cứ quân sự trên Mặt trăng là Tổng thống Dwight D. Eissenhower. Ông sợ các khoản chi tiêu quốc phòng sẽ quá tay nếu đổ vào những thứ như máy bay năng lượng nguyên tử, căn cứ quân sự trên Mặt trăng, “tia tử thần”... Thay vào đó, ông muốn quân đội tập trung hơn vào các mục tiêu bền vững và đơn giản hơn như xây dựng tên lửa tốt hơn cho các đầu đạn hạt nhân.

Tháng 7-1958, Tổng thống Eisenhower đã ký quyết định thành lập cơ quan vũ trụ dân sự mang tên Cục Vũ trụ và Hàng không quốc gia để xử lý những việc liên quan tới vũ trụ như đưa các phi hành gia lên Mặt trăng. Bản thân ông không thích ý tưởng đó, cho rằng chạy đua với Liên Xô tới Mặt trăng chỉ tốn tiền. Nhiều người Mỹ lúc đó cũng nghĩ như vậy. Mãi tới thời Tổng thống John F. Kennedy, chương trình Mặt trăng của Mỹ mới được vực dậy bất chấp lo ngại của người đóng thuế.

Cơ hội nhỏ nhoi còn sót lại cho Dự án Đường chân trời biến mất hoàn toàn năm 1967 khi Mỹ, Liên Xô và hơn 60 nước ký Hiệp ước Vũ trụ, theo đó cấm các nước tuyên bố chủ quyền Mặt trăng, các hành tinh và các thiên thể. Hiệp ước cũng giới hạn chỉ sử dụng chúng cho mục đích hòa bình, cấm đặt vũ khí hạt nhân hay vũ khí hủy diệt hàng loạt vào quỹ đạo Trái đất hay không gian.

Đặc biệt, hiệp ước cấm thành lập căn cứ quân sự, kho quân sự, công sự trên Mặt trăng hay các hành tinh, cấm thử vũ khí và diễn tập quân sự trên các thiên thể.

Như người Mỹ đã lo ngại, năm 1962, Liên Xô đúng là có bắt tay xây dựng kế hoạch lập căn cứ trên Mặt trăng và duy trì kế hoạch tới tận năm 1974, lâu hơn nhiều so với Dự án Đường chân trời của Mỹ. Sau khi Hiệp ước Vũ trụ được ký năm 1967, kế hoạch bị bỏ.

Căn cứ trên Mặt trăng chỉ là một phần của chương trình liên quan tới Mặt trăng của Liên Xô. Họ còn có một kế hoạch đưa một nhà du hành lên Mặt trăng trước Mỹ. Khi người Mỹ đánh bại Liên Xô khi đưa được phi hành gia đầu tiên lên Mặt trăng năm 1969, Liên Xô hi vọng sẽ là nước kế tiếp và sẽ phải ấn tượng hơn. Họ định thúc đẩy xây dựng căn cứ trên Mặt trăng. Kế hoạch xây căn cứ Zvezda có phần giống Dự án Đường chân trời của Mỹ.

Tuy nhiên, Liên Xô cũng không bao giờ xây được căn cứ trên Mặt trăng cũng vì chính lý do họ thất bại lần đầu: tên lửa N-1 mắc lỗi thiết kế khiến cả bốn vụ phóng thử đều thất bại. Một tên lửa nổ tung trên bệ phóng, một cái nổ chưa đầy hai phút sau khi bay, hai cái còn lại bị lỗi và lao trở lại Trái đất.

Tổng Bí thư Liên Xô Leonid Brezhnev hủy chương trình năm 1974. Tên lửa Vulkan, “kế nhiệm” N-1, được đề xuất xây dựng cùng năm nhưng chưa bao giờ được thực hiện.

Minh Minh

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.