Mỹ từng thảo luận với Iran trước và sau khi đưa quân vào Iraq

Theo một tiết lộ mới nhất của cựu Đại dứ Mỹ tại Iraq Zalmay Khalilzad trong quyển hồi ký nhan đề “Ngài Đại sứ” (The Envoy) cho biết, ngay trước khi đưa quân vào chiếm đóng tại Iraq tháng 3-2003, Bộ Ngoại giao Mỹ đã đề nghị và tiến hành các cuộc đối thoại bí mật về tương lai Iraq và về việc Iran sẽ không bắn vào máy bay Mỹ nếu lỡ xâm phạm không phận.

Theo quyển sách, trước khi tiến hành cuộc chiến xâm lược Iraq, Nhà Trắng đã cho phép Bộ Ngoại giao Mỹ tiếp xúc với các quan chức ngoại giao Iran để đưa ra một số đề nghị nhằm bảo đảm cho cuộc chiến tại Iraq diễn ra suôn sẻ, đồng thời định hình chính thể Iraq sau khi ông Saddam Hussein bị lật đổ.

Các cuộc gặp thảo luận bí mật giữa ông Zalmay Khalilzad với các quan chức ngoại giao Iran do ông Mohammad Javad Zarif, khi đó là Đại sứ Iran tại Liên Hiệp Quốc dẫn đầu diễn ra tại thành phố Geneva của Thụy Sĩ. Các cuộc gặp đã diễn ra nhiều lần, cho đến sau khi Mỹ đánh chiếm được Baghdad vào tháng 4-2003.

Tuy nhiên, giữa Mỹ và Iran còn khác biệt lớn về quan điểm đối với việc định hình chính phủ tương lai của Iraq, và cũng vì Tổng thống Mỹ khi đó George W. Bush vẫn giữ thái độ thù địch với Iran. Tháng 5-2003, chính quyền W. Bush dừng các cuộc đối thoại sau khi cáo buộc Iran chứa chấp các thủ lĩnh khủng bố Al-Qaeda bị quy trách nhiệm trong một vụ tấn công ở Riyadh, Saudi Arabia, làm chết 8 người Mỹ.

Ông Zalmay Khalilzad (trái) trao đổi với Thủ tướng Iraq Ibrahim Jaafari trước khi ông này mất chức.
Ông Zalmay Khalilzad (trái) trao đổi với Thủ tướng Iraq Ibrahim Jaafari trước khi ông này mất chức.

Ryan Crocker, một cựu đại sứ của Mỹ tại nhiều nước ở Nam Á và Trung Đông, trong đó có Iraq, cho rằng, giữa Mỹ và Iran từng có những cuộc tham vấn chính trị rất hiệu quả về Afghanistan sau sự kiện 11-9-2001, nhưng đối với vấn đề tương lai Iraq thì chiều hướng đi ngược lại. Nguyên nhân chủ yếu được cho là thái độ thù địch của Tổng thống W. Bush đối với Iran.

Ông W. Bush đã gọi Iran là “trục của quỷ” trong Thông điệp Liên bang tuyên bố vào tháng 1-2002, và hành động đó đã mặc định rằng, sẽ khó có một cuộc đối thoại nghiêm túc và các cuộc thảo luận nếu có cũng chẳng đi đến đâu – ông Crocker nói.

Các cuộc gặp bí mật Mỹ-Iran do chính ông Khalilzad khởi xướng vài tháng trước khi xảy ra cuộc chiến xâm lược Iraq tháng 3-2003 và được Nhà Trắng bật đèn xanh. Đại diện phía Iran trong cuộc tiếp xúc đầu tiên là Đại sứ Javad Zarif; phía Mỹ do ông Khalilzad dẫn đầu, đi kèm còn có ông Crocker. Khalilzad khi đó đang là Đại sứ lưu động cho những người Iraq tự do.

Tại cuộc gặp, ông Khalilzad nói với ông Javad Zarif rằng, chính quyền W. Bush muốn thiết lập một chính phủ dân chủ ở Baghdad và chính phủ này sẽ chung sống hòa bình với các nước láng giềng. Đồng thời, thông tin này cũng ngầm ý nói rằng, Mỹ không có ý định mở rộng chiến dịch quân sự vào lãnh thổ Iran.

Tuy nhiên, ông Javad Zarif có ý tưởng riêng về chính phủ tương lai ở Iraq. Ông bày tỏ ý muốn chính quyền phải nhanh chóng chuyển vào tay những người Iraq lưu vong. Javad Zarif lập luận rằng, các định chế an ninh của Iraq cần phải được xây dựng lại từ số không, yêu cầu loại trừ các thành viên đảng Baath của ông Hussein và phản đối việc quân đội Mỹ chiếm đóng Iraq.

Cách tiếp cận của ông Javad Zarif trái ngược hoàn toàn với chiến lược ông Khalilzad đưa ra để hình thành chính phủ Iraq trong đó bao gồm cả những người Iraq đối lập ở lại Iraq sống dưới chế độ ông Hussein chứ không chỉ có các lãnh đạo lưu vong. Ông Khalilzad cũng không chọn phương án thanh trừng hàng loạt cựu thành viên đảng Baath.

Những khác biệt lớn đó, cộng với bất đồng quan điểm trong vấn đề “chống khủng bố” càng làm cho cơ hội đàm phán trở nên mong manh hơn. Khi phía Mỹ đặt vấn đề “khủng bố” lên bàn thảo luận vào tháng 5-2003, ông Zarif đã đưa ra yêu cầu phía Mỹ hãy trao cho Iran các lãnh đạo nhóm Mujahedeen Khalq, còn gọi là MEK, một nhóm lưu vong chống đối chính quyền Iran, được ông Hussein chứa chấp ở Iraq. Phía Mỹ đáp trả rằng Iran chứa chấp các quan chức Al-Qaeda, trong đó có con trai của Osama bin Laden.

Mohammad Javad Zarif, người trực tiếp đối thoại với ông Zalmay Khalilzad năm 2003.
Mohammad Javad Zarif, người trực tiếp đối thoại với ông Zalmay Khalilzad năm 2003.

Tình tiết đó đã được người Iran diễn giải rằng “có khả năng có một cuộc trao đổi trực tiếp - các lãnh đạo MEK đổi các lãnh đạo Al-Qaeda” - quyển sách của ông Khalilzad viết. Chính quyền W. Bush ngay lập tức bác bỏ khái niệm “trao đổi” đó, và sau đó đã chấm dứt tiến trình thảo luận bí mật vào cuối tháng 5-2003, sau khi đã cáo buộc các lãnh đạo Al-Qaeda trú ẩn tại Iran có liên quan vụ tấn công ở Riyadh.

Sau khi được bổ nhiệm làm Đại sứ Mỹ tại Iraq vào năm 2005, ông Khalilzad tiếp tục thúc đẩy việc mở lại kênh đàm phán bí mật này. Và đã có những chuyển động hậu trường hướng đến việc mở lại kênh đối thoại bí mật Mỹ-Iran. Các quan chức Iraq hồi đó, sau khi đến Iran và quay trở về đã thông tin với Đại sứ Khalilzad rằng người Iran “sẵn sàng nói chuyện”.

Ngoài ra, trong năm 2006 cũng có một dịp mà Mỹ và Iran đã có một số chính sách trùng khớp với nhau. Ông Khalilzad khẳng định trong quyển sách: “Cả hai nước đều kết luận rằng Thủ tướng Iraq Ibrahim al-Jaafari làm việc không hiệu quả, cần phải thay.” Ông Khalilzad viết tiếp rằng, Qassim Suleiman, chỉ huy lực lượng Quds của Iran, đã bí mật đến Baghdad để trao một thông điệp rằng “Jaafari phải ra đi”.

Khalilzad kể, trong một cuộc họp Hội đồng An ninh Quốc gia, ông đã cố thuyết phục Tổng thống W. Bush cho phép ông mở lại đối thoại với người Iran. Kế đến, Abdul Aziz al-Hakim, thủ lĩnh một đảng Shiite ở Iraq có quan hệ mật thiết với Tehran, đã đến Iran và thúc giục Đại giáo chủ Ali Khamenei nối lại các cuộc thảo luận. Vị lãnh tụ tối cao Iran đã đồng ý. Tehran đã thành lập đoàn đàm phán với thành phần bao gồm bộ ngoại giao và các cơ quan an ninh Iran để chuẩn bị cho cuộc nói chuyện tại Baghdad mà Iran xác định là sẽ tham dự.

Ông Khalilzad đã định là sẽ cùng phái đoàn Iran bàn sâu vấn đề Iraq, thay vì các vấn đề về chính sách đối ngoại chung. Tuy nhiên, ý định của Khalilzad chưa được thực hiện thì Washington đột ngột hủy bỏ cuộc đối thoại vào phút chót, không rõ vì lý do gì. Từ sự kiện này, Đại giáo chủ Khamenei và ông Hakim đồng loạt nói với Khalilzad: “Không thể tin tưởng người Mỹ được”.

Rốt cuộc thì chính quyền Mỹ cũng đồng ý cho Khalilzad mở cuộc nói chuyện với Iran về vấn đề Iraq, nhưng “phải hết sức thận trọng”. Vậy là Khalilzad, và sau này (năm 2007) người kế nhiệm là ông Crocker theo đuổi các cuộc đàm phán bí mật với Iran, nhưng không mang lại hiệu quả như mong muốn.

Nguyên nhân chủ yếu được giới phân tích lý giải là vì ông Khalilzad theo đuổi chính sách quá cứng rắn đối với người Iran. Trong khi hai bên tiến hành đàm phán, thì ngoài mặt trận Iraq, lực lượng Mỹ và liên quân vẫn tiến hành các cuộc bố ráp, đụng độ với mạng lưới bán quân sự do Iran hậu thuẫn, trong đó có việc quân Mỹ bắt giữ một sĩ quan lực lượng Quds vào tháng 12-2006, ba tháng trước khi ông Khalilzad mãn nhiệm kỳ Đại sứ tại Iraq.

An Tôn (tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.