Một giáo hoàng đã đứng trước sự chỉ trích gay gắt, thậm chí như gây sức ép phải từ chức vì vụ bê bối ấu dâm của một số tu sỹ thuộc Giáo hội Thiên chúa La Mã - điều chưa từng xảy ra với Vatican sau hơn 500 năm (Theo The Guardian: “Chỉ riêng tại Hoa Kỳ đã có tới 11.750 vụ cáo buộc xâm hại trẻ em khiến các tổng giáo phận Los Angeles phải trả tiền bồi thường tới 660 triệu đôla, và Boston phải trả 100 triệu đôla”. Ngày 6/4/2010, BBC dẫn từ Tạp chí Foreign Policy điểm lại ý kiến của cả phe bảo vệ lẫn phe chỉ trích giáo hoàng.
Ví dụ, ý kiến phe bảo vệ: "Những ai hiểu được tốc độ nhanh chóng mà thay đổi diễn ra ở Vatican hiểu rằng Benedictus XVI, mặc dù muộn nhưng còn hơn bất kỳ quan chức cao cấp nào khác, hiểu được sự nghiêm trọng của tình hình và cố gắng thay đổi"; ý kiến phe chỉ trích: "Hơn nữa, ông không nên từ chức vì ông là người ở vào vị trí tuyệt vời để đẩy nhanh sự sụp đổ của một tổ chức, tính cách hợp với ông như hình với bóng và ông là người đứng đầu tuyệt đối và phù hợp về mặt lịch sử")...
Một thế giới "không phẳng" còn thể hiện cả khi hậu quả của biến đổi khí hậu không loại trừ quốc gia nào, những cuộc đàm phán do Liên hợp quốc chủ trì nhằm đạt tới sự đồng thuận về một văn bản thay thế Nghị định thư Kyoto sẽ hết hiệu lực vào năm 2012 và đặt ra tiêu chí ràng buộc về nghĩa vụ cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính, không phải đã sớm có kết quả.
Theo RFI, tới ngày 31/3/2010, trong 194 quốc gia thành viên Hội nghị khung về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (UNFCCC) chỉ có 110 quốc gia tuyên bố ủng hộ Hiệp ước Copenhagen. Trong số đó, có 75 nước đưa ra cam kết cụ thể về mức độ và thời điểm.
Trước tình hình này, ông Yvo de Boer - Thư ký UNFCCC, cho rằng con số ấy "không đủ để hạn chế sự hâm nóng trái đất, tức là kìm chế, không để cho nhiệt độ trên trái đất tăng quá 2oC". Bất đồng chưa được điều hòa tiếp tục thể hiện tại Hội nghị về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc tại Cancun -
Lời kêu gọi Hoa Kỳ, Trung Hoa và các quốc gia thải nhiều khí gây hiệu ứng nhà kính "hãy dẹp qua một bên những khác biệt quan điểm, và cam kết đi đến một thỏa thuận có tính ràng buộc pháp lý" đâu dễ được lắng nghe.
Và lời kêu gọi hãy hành động dứt khoát để giảm bớt khí thải gây hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu, trong nỗ lực giảm thiểu tác động của hiện tượng tăng nhiệt địa cầu có thể đưa tới một thỏa thuận, nhưng kết quả như thế nào vẫn cần được kiểm chứng. Người đứng đầu phái đoàn biến đổi khí hậu của Hoa Kỳ tại Hội nghị
Điều hết sức quan trọng là phải có một sự hiểu biết rõ rệt về những gì mà các nước phải thi hành, họ đang tiến về đâu. Làm sao biết được điều đó, làm sao gây dựng niềm tin vào tiến trình này của một quốc gia trước hành động của các nước khác".
Trong điều kiện loài người vẫn chưa có khả năng tìm ra nguồn năng lượng thay thế, thì nhiên liệu hóa thạch vẫn giữ vai trò chủ lực, Tin tham khảo thế giới (Thông tấn xã Việt Nam, ngày 7/12/2010) cho biết: "Mới đây, Cơ quan năng lượng quốc tế (IAEA) tuyên bố rằng dù thế giới có thực thi những chính sách kinh tế tốt đẹp nhất, thì việc sử dụng nguyên liệu có gốc cacbon vẫn tiếp tục tăng... Bất chấp những phát minh mới về ôtô chạy điện hoặc các loại nguyên liệu có thể tái chế khác, xăng và dầu điêzen dường như sẽ tiếp tục là nguyên liệu chủ yếu cho các loại xe ôtô trong nhiều thập kỷ tới...".
Rồi vì còn tranh cãi, nên Hội nghị Cancun không đạt được thỏa thuận toàn diện có tính pháp lý, mà chỉ đi tới một thỏa hiệp "là nền tảng mà trên cơ sở đó một thỏa thuận toàn diện có thể được xây dựng", và "vẫn để ngỏ câu hỏi liệu các biện pháp nào, bao gồm việc cắt giảm khí thải, sẽ có tính ràng buộc về pháp lý" (BBC, 11/12/2010). Tức là một số nguyên nhân cơ bản của biến đổi khí hậu vẫn tiếp tục hiện hữu. Và nói như đại diện của Tổ chức Hòa bình xanh, thì: "
Nên VOA ngày 15/12/2010 mới đưa cái tin khá khôi hài là: "Một nhật báo ở Anh ước tính rằng lượng khí thải cacbon của hội nghị hai tuần ở Cancun là 25 ngàn tấn, nhiều hơn lượng khí thải trong hai tuần của một số quốc gia Phi châu"! Vậy rồi đây, điều gì sẽ xảy ra nếu những quốc gia đã phát triển và các quốc gia đang vươn lên vẫn cứ dùng dằng, hoặc hứa một đằng làm một nẻo, trong khi lẽ ra mọi quốc gia phải cố gắng phối hợp để hạn chế quá trình biến đổi khí hậu?
Một thế giới "không phẳng". Chỉ sau vài chục năm, một số quốc gia vốn bị coi là chậm phát triển, thì nay đã và đang tồn tại giữa nhân loại với một tư thế khác. Đó là Trung Hoa, là Ấn Độ, là
Và, trong khi một số quốc gia "mạnh về gạo, bạo về tiền" một mặt đậy điệm kỹ lưỡng các mỏ dầu, mỏ khoáng sản của mình, một mặt đeo chiếc hầu bao khổng lồ đi mua dầu thô, khoáng sản thô hay đã qua sơ chế ở quốc gia khác; thì lại có một số quốc gia cố gắng đào bới tài nguyên càng nhiều càng tốt, chỉ để hổn hển chạy đua với những "chỉ số kinh tế bong bóng" rồi kiêu hãnh về mức sống của thế hệ mình mà không tự ý thức rằng, mức sống ấy là hệ quả của kiểu phát triển xã hội theo lối "ăn xổi", để quên rằng, đó là tài sản phải để dành cho cháu con.
Như với Việt Nam chẳng hạn, không thể không chú ý tới ý kiến của ông Phạm Nam Kim - cựu Giám đốc Ngân hàng Vaud và là chuyên gia tư vấn chiến lược về tài chính tại Thụy Sĩ: "Mối đe dọa trầm trọng nhất cho nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam là mảng kinh tế "ảo".
Điển hình thứ nhất là lĩnh vực địa ốc, đầu cơ trên lĩnh vực này đã đưa đến một mức giá nhà đất hoàn toàn ảo, đắt nhất thế giới, trong khi GDP trên đầu người là 1.095 USD, xếp hạng thứ 139 trên thế giới (theo IMF). Mọi nhà đầu tư, cá nhân hay doanh nghiệp đều đổ xô đầu tư vào lĩnh vực địa ốc. Tài nguyên của cả nước được dùng để xây cất những cao ốc, chung cư cao cấp, không phải để ở mà để mua đi bán lại.
Tất nhiên, những đầu tư trên không giúp gì cho sự phát triển của nền kinh tế "thực" mà nó còn là nguyên nhân gây bất ổn và căng thẳng cho xã hội như vấn đề nhà ở cho người dân" (Tài liệu tham khảo đặc biệt - Thông tấn xã Việt Nam, ngày 7/12/2010).
Một thế giới "không phẳng". Vì nhìn trên toàn cảnh nhân loại, khoảng cách giàu nghèo không những chưa được thu hẹp mà còn có quá nhiều dấu hiệu chứng tỏ khoảng cách ngày càng nới rộng, người giàu ngày càng giàu hơn và người nghèo ngày càng nghèo hơn.
Ngay ở Việt Nam, trong khi có người tổ chức đám cưới tại khách sạn "năm sao", váy cô dâu đặt mua từ Italy giá 15.000 USD, bộ ảnh đám cưới giá vài trăm triệu đồng,... lại có người vì thiếu tiền cưới vợ mà trở thành kẻ cướp. Hoặc trong khi có gia đình bỏ ra hàng chục nghìn USD để con cái học hè ở nước ngoài, lại có gia đình phải cho con cái nghỉ học vì không có tiền đóng học phí...
Dù thế nào thì toàn cầu hóa chưa tạo ra được sự cân đối nhất định về chất lượng sống cũng như mức sống giữa các dân tộc, giữa các quốc gia. Vào dịp cuối năm, người ta tưng bừng công bố danh sách người giàu nhất thế giới với tài sản USD có chín số không, thì dường như chẳng mấy ai quan tâm tới vô vàn người lao động trên khắp năm châu vẫn sung sướng và hồ hởi với thu nhập 1-2 USD một ngày, chỉ vì đã được thỏa mãn một chân lý sinh tồn đơn giản: "May mà còn có việc làm, chứ không bị thất nghiệp!".
Sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia ở các khu vực địa lý khác nhau với đường hướng chính trị khác nhau, cùng tham vọng về lợi ích của các tập đoàn kinh tế,… đã làm cho bức tranh nhân loại ở cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI trở nên loang lổ. Khoa học, kỹ thuật và công nghệ đã chứng tỏ vai trò của nó, được xác định là một động lực quan trọng để phát triển xã hội.
Nhưng, vào lúc của cải làm ra nhiều hơn, nhu cầu được thoả mãn tốt hơn, phương tiện để khám phá thế giới hữu hiệu hơn, và khoảng cách không gian được thu hẹp,... thì mặt trái của khoa học, kỹ thuật và công nghệ cũng bộc lộ, tạo ra rất nhiều biến động tiêu cực, có xu hướng phá vỡ thế cân bằng giữa đời sống vật chất với đời sống tinh thần của con người.
Và như thế, không phải là phi lý, nếu từ tình trạng phát triển không đồng đều giữa các quốc gia, để đặt ra câu hỏi: Phải chăng, "phẳng" trong kinh tế cũng chỉ là một ước vọng? Vì, dẫu chi phối và ràng buộc lẫn nhau chặt chẽ đến mức nào, thì đã có lúc các nền kinh tế lớn tỏ ra quá tự tin, chưa nhận thức đầy đủ, chưa nhanh chóng tìm ra biện pháp giải quyết từ trong mầm mống các biến cố kinh tế có thể đẩy tới khủng hoảng.
Để rồi, cuối thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, loài người phải nếm mùi một cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính có khả năng đe dọa toàn cầu với "sự đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán, mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới, có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ".
Đối mặt với khủng hoảng, một số công ty xuyên quốc gia, một số thế lực tài chính hùng mạnh đã không thể tự đứng trên đôi chân của họ. Nhà nước phải can thiệp, một số nền kinh tế lớn phải phối hợp hành động, thậm chí là gây sức ép lên nhau nhằm ngăn chặn khủng hoảng.
Ngày 29/12/2010 trong bài viết 2010: Chiến tranh tiền tệ đào sâu hố ngăn cách giữa các nền kinh tế trên RFI có đoạn: "Trong năm qua, các căng thẳng về tỷ giá đồng đôla Mỹ và nhân dân tệ của Trung Quốc, tình trạng bấp bênh của đồng euro, các biện pháp đối phó của Nhật Bản, Hoa Kỳ cho thấy hố ngăn cách ngày càng gia tăng giữa một bên là những nền kinh tế phát triển và bên kia là những nước mới trỗi dậy, có tỷ lệ tăng trưởng cao. Vào cuối tháng 9, Bộ trưởng Tài chính Brazil Guido Mangega đã cảnh báo: "Chúng ta hiện đang chứng kiến một cuộc chiến tranh tiền tệ quốc tế, một sự phá giá đại trà các đồng tiền".
Từ đó, giới chuyên gia đã nhiều lần sử dụng cụm từ "chiến tranh tiền tệ" để nói về những bất đồng nghiêm trọng trong các cuộc thảo luận giữa lãnh đạo các nền kinh tế lớn xuất khẩu nhiều như Trung Quốc, Đức, Nhật Bản và những quốc gia đang cố gắng đẩy mạnh xuất khẩu như Hoa Kỳ hoặc các nước trong khu vực đồng euro"...
Với các tình huống trên, hẳn là trước khi hoàn tất Thế giới phẳng (The world is flat, 4/2005), Thomas L. Friedman đã không thể hình dung? Phải chăng ý tưởng ra đời từ thời viết cuốn sách Chiếc xe Lexus và cây ô-liu (The Lexus and the Olive tree) cùng sự khảo cứu từ "giới hạn trong các sân golf, nhà hàng năm sao, xe Limousine" đã ràng buộc đến mức hầu như Thomas L. Friedman không sớm thâu nhận các sự kiện - hiện tượng cập nhật để xử lý các sự kiện - hiện tượng đó trong tính khả biến của chúng?