Một nửa của Thơ Mới

Đặt trong mạch phát triển liên tục của một nghìn năm thơ ca Việt Nam, phong trào Thơ Mới quả thực đã khiến cho nhiều người quan sát không khỏi ngỡ ngàng bởi sự mới, sự lạ trên khá nhiều phương diện của nó.

Đặt trong mạch phát triển liên tục của một nghìn năm thơ ca Việt Nam , phong trào Thơ Mới quả thực đã khiến cho nhiều người quan sát không khỏi ngỡ ngàng bởi sự mới, sự lạ trên khá nhiều phương diện của nó.

Đọc lại bài tiểu luận "Một thời đại trong thi ca" đặt ở đầu sách "Thi nhân Việt Nam" của Hoài Thanh, chẳng khó khăn gì lắm để nhận thấy nhà phê bình tài hoa đã vui mừng và xúc động đến thế nào khi được là người cùng thời, được là người chứng kiến những cái xưa nay chưa từng có ở Thơ Mới. Duy có một điều Hoài Thanh không đề cập (vì nó không mấy quan trọng chăng?), đó là sự tăng bội của các tác giả nữ. Suốt mười thế kỷ trước đó, gạn đến hết mức, số tác giả nữ lưu danh trong thơ ca Việt Nam có lẽ không quá số ngón trên hai bàn tay.

Nhưng chỉ với trên một thập kỷ Thơ Mới, căn cứ theo sách "Thơ Mới 1932- 1945, tác giả và tác phẩm" (NXB Hội Nhà văn, 2004), đã có tới gần mười lăm nhà thơ nữ. (Trong "Thi nhân Việt Nam ", Hoài Thanh chỉ tuyển thơ của năm người: Thu Hồng, Anh Thơ, Hằng Phương, Vân Đài, Mộng Tuyết). Xét theo tương quan giữa độ dài thời gian và lượng tác giả, thông số nêu trên không phải không có ý nghĩa.

Nó cho thấy rõ ràng là xã hội Việt Nam, dưới tác động của sự gặp gỡ với phương Tây- "cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ" (chữ của Hoài Thanh) đã thay đổi, đã mở rộng các điều kiện để nữ giới có thể được học hành, tiếp cận văn chương, tập sáng tác và công bố sáng tác văn chương của mình rộng ra trong đời sống.

Một nửa của Thơ Mới ảnh 1
Minh họa của Hữu Khoa.

Chữ quốc ngữ, trường nữ học, báo chí và nhà xuất bản chính là những điều kiện rất thuận lợi như vậy. Nhưng phải nói ngay rằng những điều kiện thuận lợi đó không chỉ làm cái việc duy nhất là đưa các tác giả nữ "thêm vào" ngôi đền thiêng thơ ca- như một phép cộng số học đơn giản. Trong một vài trường hợp nhất định, các tác giả nữ của Thơ Mới còn làm được nhiều hơn thế.

Trước hết là trường hợp tác giả Nguyễn Thị Manh Manh, tức Nguyễn Thị Kiêm (sinh năm 1914, không rõ năm mất). Những năm 30, bà làm việc tại tòa soạn báo "Phụ nữ tân văn" ở Sài Gòn. Bà là một trong số những cây bút đầu tiên làm thơ theo lối mới và đã nhiều lần đăng đàn diễn thuyết để bênh vực cho thơ mới.

Sách "Thơ Mới 1932- 1945, tác giả và tác phẩm" có tuyển bốn bài thơ của bà: Viếng phòng vắng, Canh tàn, Bức thư gởi tất cả ai ưa hay là ghét bỏ lối thơ mới, Bà La Fugie, nhà thám hiểm và họa sỹ. Trong số đó, bài "Viếng phòng vắng" - bài thơ đầu tay của bà - mang đậm dấu vết của một thể loại thơ cổ, ấy là từ khúc. Bài "Canh tàn" là một thể nghiệm (còn xa mới nhuần nhuyễn) của thơ năm chữ.

Hai bài còn lại, mượn cách nói của Hoài Thanh, phải gọi là "một cuộc xâm lăng của văn xuôi" trong địa hạt thơ. Thế nhưng, nếu không dừng lại ở việc thưởng thức, mà đẩy xa hơn, tức là tìm hiểu và cắt nghĩa, ta sẽ nhận thấy Nguyễn Thị Manh Manh là người có công với Thơ Mới.

Nội việc một người đàn bà, ở cái xứ và vào cái thời mà truyền thống coi nhẹ nữ giới vẫn còn rất nặng căn, dám chường mặt ra trước công chúng để diễn thuyết, để hô hào cổ xúy, đó đã là sự lạ. Mà lại là diễn thuyết cổ xúy cho "thơ mới", thứ thơ lần đầu tiên xuất hiện và đang chịu không ít sự dè bỉu, thậm chí ác cảm, từ những tác giả đại diện cho "thơ cũ" có bề dày cả ngàn năm, thì đó là sự lạ nhân đôi.

Cuộc diễn thuyết của bà vào ngày 26/7/1933 tại Hội Khuyến học Sài Gòn đã khai màn cho một loạt cuộc diễn thuyết tiếp theo, trong khoảng từ năm 1934 đến năm 1936, của Lưu Trọng Lư, Đỗ Đức Vượng, Vũ Đình Liên, Trương Tửu. Cộng với sự hưởng ứng của báo chí, các cuộc diễn thuyết này quả thực đã khơi dậy làn sóng sáng tác và thưởng thức thơ theo lối mới một cách mạnh mẽ, góp phần dẫn đến sự toàn thắng của Thơ Mới.

Nhưng khá đặc biệt là khi thơ mới vẫn đang trong cuộc chiến "cù cưa" với thơ cũ, thì trên "Phụ nữ tân văn" số ra ngày 14/12/1933, Nguyễn Thị Manh Manh lại cho in bài "Bức thư gửi tất cả ai ưa hay là ghét bỏ lối thơ mới", thể hiện một cái nhìn khá "thân ái" với thơ cũ, bênh thơ mới nhưng không theo cách quyết liệt tranh thắng cho bằng được.

Tốt nhất, chúng ta hãy đọc những câu cuối của bài (thật khó có thể gọi là thơ) này: "Kết luận chuyện mới gần thành chuyện cũ/ Các bạn ơi, cãi với nhau thét đã nhàm rồi/ Làng thơ, thơ mới, thơ cũ, có đủ/ Thơ xưa là đất cũ, thơ nay tỉ đất bồi/ Đất trước để yên, đất sau lo xới/ Đất mới thì ít khô khan hơn đất đã dụng rồi/ Rủ nhau khai phá, cất thêm sở mới/ Nếu thật tình mong cây thơm mọc nhánh đâm chồi/ Bây giờ tôi thử khuyên khách làm thơ/ Đổi lại, ai ưa thơ mới lo tìm chỗ dở/ Ai ghét, ráng kiếm cái hay của thơ/ Vậy, chê khen có giá trị, hoa mới sẽ nở". Nói gọn, ít nhất, với Nguyễn Thị Manh Manh, phải ghi nhận rằng trong sự thành công của Thơ Mới là có phần đóng góp không nhỏ của người cầm bút thuộc "phái khăn yếm".

Vào thời điểm cực thịnh của Thơ Mới (ước định trong khoảng từ năm 1937 đến năm 1941, giai đoạn mà hầu hết những thi nhân sáng giá nhất của phong trào đều đã xuất hiện và đánh dấu sự xuất hiện của mình bằng các thi tập để đời), phía tác giả nữ có một cái tên đáng chú ý: Anh Thơ. Muốn hay không muốn, người nghiên cứu văn học sử tất phải chú ý đến sự "đáng chú ý" của Anh Thơ khi bà là người được giải khuyến khích về thơ của Tự lực văn đoàn vào năm 1939, với tập "Bức tranh quê".

Cần phải nhớ rằng giải Tự lực văn đoàn là một giải thưởng văn chương vào loại danh giá nhất thời bấy giờ. Và việc văn đoàn Tự lực, vốn rất quan tâm đến các vấn đề về nông thôn Việt Nam , trao giải cho tập thơ của Anh Thơ, thì hẳn là "phải có ý gì"? Câu trả lời nằm ở chính nhan đề của tập thơ - một vùng đề tài đã được "quy hoạch": đó là làng quê Việt Nam với tất cả dáng vẻ và sự sống động của nó trong không gian, qua thời gian.

Có thể nói, "Bức tranh quê" của Anh Thơ đúng là... bức tranh quê. Nghĩa là tất thảy những gì thuộc về cảnh sắc, con người, sinh hoạt của làng quê lọt vào tầm mắt người thiếu nữ đôi mươi thì đều được bà tả lại đầy đủ, tỉ mỉ, theo kiểu một nhà dân tộc học đang tiến hành ghi chép tư liệu điền dã. Từ bài đầu tới bài cuối của tập thơ, bài nào cũng đóng khuôn vào ba khổ, mỗi khổ bốn câu, mỗi câu tám chữ, và chủ yếu là một giọng điệu miêu tả.

Nó tạo cảm giác đơn điệu tới mức khiến tác giả "Thi nhân Việt Nam" đã phải "phát phẫn" lên mà rằng: "Tranh quê có bức chỉ là bức ảnh; cái thản nhiên hàm súc của nghệ sỹ đã nhường chỗ cho cái thản nhiên trống rỗng của nhà nghề. Theo gót thi nhân đến đó, ta thấy uất ức khó thở: người dẫn ta vào một thế giới tù túng rồi không cho ta mơ tưởng đến một trời đất nào khác nữa".

Thế nhưng, cũng có những lúc "Bức tranh quê" lóe sáng, như sự ghi nhận của Hoài Thanh: "Thơ không cốt tả mà cốt gợi, gợi cảnh cũng như gợi tình. Cho nên mỗi lần Anh Thơ chịu đi ra ngoài lối tù túng đó để nhìn cảnh vật một cách sâu sắc hơn, lời thơ bỗng trở nên rộng rãi không ngờ và ta thấy khoan khoái biết bao. Sau câu thơ ta mơ hồ thấy một cái gì: có lẽ là hồn thi nhân".

Hoài Thanh chỉ dẫn ra năm ví dụ, nhưng trên thực tế, nếu đọc kỹ "Bức tranh quê", khó tính mấy thì cũng phải nhận rằng những câu thơ hay như "Hoa mướp rụng từng đóa vàng rải rác/ Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay" nhiều hơn thế gấp nhiều lần. Chúng rải suốt tập thơ, tạo thành những điểm nhấn ấn tượng trên nền của một thứ thơ tả chân nhàn nhạt. Dù sao đi nữa, chính thứ thơ tả chân ấy có lẽ cũng góp phần khiến thơ của Anh Thơ "biệt hẳn ra một lối" (Hoài Thanh).

Và nhìn trong toàn bộ phong trào Thơ Mới, nếu không có một "Thôn ca" của Đoàn Văn Cừ làm đối trọng, thì hẳn "Bức tranh quê" của nữ thi sỹ Anh Thơ đã độc chiếm danh vị "một ghi chép dân tộc học bằng ngôn ngữ thi ca" về làng quê Việt Nam trước năm 1945!

Nếu thơ của Anh Thơ mang nồng hơi thở đồng nội, thì thơ của Ngân Giang lại... đậm hương phấn sáp! Ngân Giang (1916 - 2002) ngay từ nhỏ đã được học chữ Hán và rất yêu thích thơ Đường. 13 tuổi bà đã có thơ đăng trên tờ "Trung Bắc tân văn". 16 tuổi bà cho ra mắt tập thơ đầu tay "Giọt lệ xuân", bút danh Hạn Liên.

Về thơ Ngân Giang, nói theo cách của Nguyễn Vỹ: "Không giống như Mộng Sơn, Anh Thơ, Ngân Giang sống rất nhiều về tình yêu, mơ mộng rất nhiều về tình yêu, đau khổ rất nhiều về tình yêu nhưng chẳng bao giờ có hạnh phúc với tình yêu cả" (dẫn từ "Từ điển văn học, bộ mới", tr. 1050). Tình ái, nhất là những mối tình dang dở bất hạnh, đó là nguồn mạch chủ yếu trong thơ Ngân Giang.

Và ở lãnh địa này, theo chủ quan của tôi, Ngân Giang xứng đáng được coi là tác giả xuất sắc nhất trong số các nữ thi sỹ của Thơ Mới. Các tác giả Nguyễn Vinh Phúc và Đặng Thị Hảo nhận định: "Thơ tình của bà có nỗi cô sầu thăm thẳm của hơi thơ cổ điển, lại có cái duyên nồng nàn lãng mạn của giọng điệu Thơ Mới nên thực sự hấp dẫn" (Sách đd, tr.1050).

Điều lạ là trong "Thi nhân Việt Nam " không có bà, dẫu chỉ là một cái tên được gọi ra chứ không có thơ được tuyển, như trường hợp của Trần Huyền Trân, cũng không có! Chúng ta nhớ lại: khi viết về Mộng Tuyết, Hoài Thanh có ý khen rằng trong thơ Mộng Tuyết có một người đàn bà thứ thiệt, chứ không phải một người đàn bà do trí tưởng  tượng của thi nhân đàn ông tạo ra, rằng nó có vẻ yêu kiều riêng mà ngòi bút đàn ông khó viết ra được.

Lời khen ấy giá mà được "dán" vào thơ Ngân Giang, thiết nghĩ sẽ có phần đích đáng hơn. Tốt nhất là chúng ta hãy đọc lại bài "Trưng Nữ Vương" nổi tiếng của bà, viết năm 1939: "Thù hận đôi lần chau khóe hạnh/ Một trời loáng thoáng bóng sao rơi/ Dồn sương vó ngựa xa non thẳm/ Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi/ Ngang dọc non sông đường kiếm mã/ Huy hoàng cung điện nếp cân đai/ Bốn phương gió bão dồn chân ngựa/ Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai/ Máu đỏ cốt xương thù vạn cổ/ Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai/ Hồn người chín suối cười an ủi/ Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi/ Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận/ Non Hồng quét sạch bụi trần ai/ Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận/ Gót ngọc gieo hoa ngắt mấy trời/ ải bắc quân thù kinh vó ngựa/ Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi/ Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá/ Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi".

Bài thơ đẹp một cách sang trọng, cổ kính, và cũng thấm đẫm tình. Cái tình của một bà hoàng - góa phụ. Cái tình của một nữ vương ý thức rất rõ quyền uy của mình, niềm kiêu hãnh của mình, trách nhiệm của mình, sự mất mát đau đớn của mình. Vừa mới làm bạt vía quân thù nơi ải Bắc, nữ vương đã thấm ngay cái lạnh của tấm khăn tang (khăn trở) trên đầu. Hai câu kết: "Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá/ Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi" quả là một lời cảm thán bất giác đầy chất... "chị em", chắc chắn không một đấng tu mi nào có thể viết được như thế!

Từ sau năm 1945, càng lúc các tác giả nữ xuất hiện càng nhiều hơn trên thi đàn Việt Nam . Đó là điều đáng mừng. Nhưng đôi khi "nhiều" dễ dẫn đến "nhạt". Những khi ấy, có lẽ ta nên nhìn lại "một thời đại trong thi ca", đọc lại tác phẩm của "nửa kia" của Thơ Mới. Và nghĩ tới câu "quý hồ tinh..."?

Hoài Nam

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?