Sau ngày đưa ông Công, ông Táo lên trời, cha tôi - nhạc sĩ Văn Cao bảo:- Tết này cả nhà mình sẽ về quê ăn Tết. Tôi nhảy cẫng lên, reo:- Ôi thế thì thích lắm, con được về quê, con được về quê!Mẹ tôi lừ mắt:- Bé bé cái mồm chứ, để cho em nó ngủ.Tôi sị mặt, sợ hãi nhìn cha tôi. Ông không nói gì, chỉ mỉm cười và nháy mắt với tôi. Kể từ hôm đó, tôi cứ thấp thỏm, chờ đến ngày được về quê ăn tết. Và rồi cái ngày mong đợi đó cũng đến. Sáng sớm ngày 30 tết năm Mậu Tuất (1958) cả nhà tôi ra ga lên tàu hỏa về quê.
Quê tôi ở làng An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, thuộc tỉnh Nam Định. Lần đầu tiên được đi tàu hỏa, tôi thích lắm. Tôi mê man nhìn ngắm cảnh vật suốt dọc đường mà không biết chán. Mới lạ, ngạc nhiên, thích thú. Đấy là cảm giác lần đầu tiên được đi xa đã hằn in vào tâm trí tôi, một đứa trẻ mới hơn mười tuổi.
Quá trưa, tàu về đến ga Trình Xuyên (một ga xép nhỏ cách Nam Định 9 km) đã thấy, cô dì, chú bác ra đón. Chúng tôi đi bộ dọc theo đường sắt 3 km để về làng. Qua một cây cầu sắt (gọi là cầu Chuối), cha tôi chỉ cho tôi thấy một cây cổ thụ to trên một gò đất cách đường sắt khoảng 50m. Ông bảo tôi:- Con có nhìn thấy cây cổ thụ to kia không? Đấy là cây gạo, mốc đánh dấu lối rẽ vào làng ta. Vào tháng ba, hoa gạo nở đỏ rực như những đốm lửa. Đứng trên cầu có thể nhìn thấy làng ta rồi.Tôi chăm chú nhìn cây gạo, lần đầu tiên bộ óc non nớt của tôi mở ra để ghi nhận hình ảnh của cây gạo, dấu ấn đầu tiên để nhận biết quê hương mình.
Chúng tôi vào đến làng, đã thấy đông đảo bà con làng xóm đứng chật cả sân đình. Họ ra đón cha con tôi trong tình thân thương, đầm ấm, như đón đứa con thân yêu xa cách lâu ngày mới có dịp trở về quê hương. Họ đón cha tôi trong niềm tự hào, một con người đã làm rạng danh cho dòng tộc, cho quê hương. Những cảm nhận này chỉ đến khi đã trưởng thành tôi mới có thể hiểu được.
Bà nội tôi giọng nghẹn ngào:- Cao về đấy hả con? Nhận được thư báo vợ chồng con sẽ đưa các cháu về quê ăn tết, mẹ mừng quá. Cả làng đều mong.Rồi bà ôm lấy anh em chúng tôi, sờ nắn khắp người tôi:- Trời ơi, các cháu tôi lớn quá!
Ngày đó, quê tôi nghèo lắm. Cả làng chỉ toàn nhà tranh vách đất. Các bà, các cô trong làng vẫn đa số mặc váy đụp. Cha tôi bảo:- Trong kháng chiến, quê mình bị giặc Pháp càn đi càn lại nhiều lần. Đình chùa miếu mạo đều bị chúng phá sạch. Nhà của ông bà nội cũng bị giặc Pháp đốt đi đốt lại nhiều lần. Sau này bố phải gửi tiền về để làm tạm cho bà ở mấy gian nhà tranh.
Chúng tôi được đón vào ở tại nhà cố Thục, cha tôi gọi là bác. Cố Thục người cao lớn, râu tóc bạc phơ, trông như một ông tiên trong tranh vẽ. Ông từng là một đô vật nổi tiếng trong vùng. Thời trẻ ông đã từng giành nhiều giải thưởng tại các sới vật. Ông là người đôn hậu, sống rất nghĩa khí, nên được bà con làng trên xóm dưới kính trọng.
Ngôi nhà của ông tuy vẫn lợp mái rạ nhưng là một ngôi nhà 5 gian khang trang nhất xóm. Sân được lát gạch và có một bể nước mưa mái cuốn vòm rất lớn. Có lần tôi đã chui vào bể của ông để tắm trộm. Ông biết chuyện chỉ cười, không hề mắng tôi câu nào. Cả nhà tôi đều yêu quý và kính trọng ông. Những năm sau đó, lần nào về quê tôi đều ở nhà ông.
Chiều 30 tết năm đó, họ hàng, làng xóm ngồi chật kín cả trong nhà lẫn ngoài sân, tíu tít hỏi thăm, nghe cha tôi nói chuyện về Thủ đô, về Bác Hồ. Cố Thục phải năm lần bảy lượt thúc giục mọi người:- Thôi! Bà con ai về nhà nấy đi để cho chú Cao với vợ con nó ăn cơm còn đi nghỉ. Cô chú ấy đi gần hết ngày mới về được đến đây, chắc mệt lắm rồi. Chuyện còn nhiều để mai hãy hay.
Tết năm đó, làng tôi mở hội. Tôi nhanh chóng hòa mình cùng với lũ trẻ trong xóm, nô đùa, chạy nhảy, trèo cây hái quả, xem chọi gà, xem đánh vật. Hội vật làng tôi được mở lại lần đầu tiên sau những năm dài kháng chiến. Cố Thục của tôi được cử làm Trưởng ban giám khảo. Cha tôi được vinh dự ngồi bên cạnh ông.
Sới vật được tổ chức trên một thửa ruộng trước cửa sân đình. Đình làng tôi đã bị giặc pháp phá hủy chỉ còn lại một gian thờ hậu cung, chỉ có một bát hương đồng rất lớn thờ Thành Hoàng làng. Đô vật từ các làng xã xung quanh đến tham dự rất đông.
Cha tôi đứng lên tuyên bố: Sẽ vẽ tặng đô vật nào thắng cuộc một bức chân dung. Các đô vật phấn khởi vỗ tay reo hò ầm ĩ. Sau hai ngày thi đấu sôi nổi, trận chung kết diễn ra gay go quyết liệt. Thắng cuộc của hội vật năm đó là anh Đô Kỳ, người làng tôi. Còn người thua là một đô vật ở xóm bên. Anh chàng đô vật bị thua này rất buồn, có ý không phục.Cha tôi thấy vậy, ông quyết định sẽ tặng cả hai đô vật mỗi người một bức chân dung.
Tại nhà đô vật Ký, cha tôi đã dùng chì than để vẽ chân dung anh. Dân làng xúm đông xúm đỏ, trèo lên bàn, lên ghế để xem cha tôi vẽ. Sau 15 phút, bức chân dung được cha tôi vẽ xong. Mọi người ồ lên thán phục, khen cha tôi vẽ Đô Ký giống quá. Bức chân dung này được gia đình ông Ký quý như một báu vật. Cho đến tận bây giờ các cụ trong làng thỉnh thoảng vẫn kể lại cho con cháu nghe chuyện ông Văn Cao về quê vẽ chân dung các đô vật thắng cuộc trong Hội làng năm đó.
Tết năm đó tôi được sống những ngày vui vẻ, ấm cúng trong tình yêu thương chan chứa của họ hàng, làng xóm. Tôi đã hiểu thế nào là tình người, tình quê hương. Những người dân quê tôi còn nghèo khổ nhưng tấm lòng của họ thật dung dị, chất phác và chân tình biết bao. Tôi cũng không thể nào quên được hình ảnh cả làng tiễn chúng tôi trở về Hà Nội.Qua cầu Chuối, tôi nhìn lại vẫn thấy mọi người đứng bên gốc cây gạo già luyến tiếc nhìn theo. Tôi bồi hồi xúc động: Nửa muốn về Hà Nội, nửa muốn trở lại quê...
Xuân Canh Dần 2010