Một chuyện cổ tích buồn trong cuộc tình ngắn ngủi

"Mười năm sau, tôi lấy sách ra đọc lại thì bỗng thấy rõ rằng Andersen rất cô đơn. Cô đơn lắm! Tôi không biết thân thế ông ra sao. Hình như ông sống lang thang, đi đây đi đó rất nhiều. Nhưng điều đó chỉ xác nhận thêm cảm giác của tôi, ông sống rất cô đơn. Chính vì vậy, ông ấy mới nói chuyện với trẻ con!..."

Lev Tolstoy quả là rất tinh khi "nhìn" ra sự cô đơn len lỏi trên từng trang sách của nhà viết truyện cổ tích lừng danh. Tuy nhiên, không thể khẳng định vì cô đơn nên Andersen mới tìm cách "nói chuyện" với trẻ con, mà ngược lại, để "nói chuyện" được với trẻ con, ông đã buộc phải hứng chịu cho riêng mình sự cô đơn ấy...

Hans Christian Andersen sinh năm 1805 tại Odense , một thành phố cổ của Đan Mạch, xứ sở thơ mộng mà sau này chính ông đã ca ngợi: "Là một đất nước nên thơ, có rất nhiều cổ tích thần thoại phương Bắc, nhiều tập tục, nhiều điệu hát. Những rừng sến um tùm, những cánh đồng cỏ và đồng lúa mì phì nhiêu phủ kín các mặt đảo".

Cụ thân sinh ra Andersen vốn là thợ đóng giày. Con người làm nghề chăm chút cho đôi bàn chân thiên hạ này hẳn không thể nào ngờ rằng, chính bởi sự quan tâm săn sóc đặc biệt của ông cho việc mở mang trí tưởng tượng của con trai, mà sau này Andersen đã trở thành người lữ khách của muôn phương, đã đặt bước chân tới bao miền đất, đã thu nạp trong kho chứa của tâm hồn mình bao điều kỳ thú, để rồi từ đó viết nên những trang truyện cổ tích làm say lòng bao thế hệ độc giả.

Năm 23 tuổi, Andersen cho xuất bản cuốn sách đầu tay, một tập thơ có cái tên rất gợi thú phiêu lưu "Dạo chơi ra đảo Amaghe". Nhờ nhuận bút của cuốn sách, Andersen có điều kiện làm một chuyến du lịch hàng loạt các nước châu Âu, khởi đầu là Đức, sau đó là Thụy Sĩ, Pháp... rồi cuối cùng đến Italia.

Từ đó, cuộc đời Andersen trải dài triền miên theo các chuyến đi. Đến đâu ông cũng được các bậc tài danh của xứ sở ông đặt chân đón tiếp nồng hậu. Hugo, Dumas của Pháp, Dickens của Anh, Haine của Đức... tất cả đều không tiếc lời bày tỏ sự cảm mến của mình đối với tác giả của những câu chuyện cổ tích tuyệt vời, "cha đẻ" của những "Nàng tiên cá", "Công chúa tuyết", "Chú lính chì dũng cảm"... Trẻ em háo hức chờ đón ông như chờ đón ông già Noel!

Theo xác định của một số nhà nghiên cứu, phải có đến dăm bảy phụ nữ thuộc hàng "danh giá" đã đem lòng yêu thương Andersen! Trong đó, câu chuyện tình lãng mạn giữa ông và một thiếu phụ Italia đã trở thành nguồn cảm hứng giúp nhà văn Nga Paustovsky viết nên thiên truyện "Chuyến xe đêm"- một truyện ngắn trang nhã, xúc động, ca ngợi vẻ đẹp thuần khiết của tình yêu. Truyện này đã được dịch in ở Việt Nam ta từ hơn năm mươi năm nay và được tái bản nhiều lần. Mặc dù có một số yếu tố "sáng tác", song bạn đọc vẫn có thể tìm thấy ở đó những dữ liệu liên quan đến cuộc đời thực của Andersen...

Đêm ấy - một đêm xuân rạo rực, Andersen theo chuyến xe ngựa rời thành Venice để đến Verona , tiếp tục chương trình ngao du một số địa danh ở miền Bắc Italia.

Trong bóng đêm, Andersen như chỉ nhìn thấy được hàm răng trắng của các cô gái cùng đi trên xe. Để góp vui, Andersen bèn thể hiện cái tài "bịa chuyện" của mình. Trước nhất - như một thầy bói - ông thử trò "tưởng tượng" về các cô gái trên xe. Nào là cô này có mắt màu xanh bí ẩn, cô kia có những bím tóc thơm thơm, rồi thì những đôi môi hồng thắm, những cặp mi cong... Andersen còn tiên đoán cả về tương lai, hạnh phúc của các cô, khiến cho có cô thì bẽn lẽn mỉm cười, cô thì cảm động đến sa nước mắt... Cuối cùng một cô mạnh bạo lên tiếng đề nghị ông "tự tả về mình".

Andersen không thuộc dạng những người đẹp trai: trán cao, hơi ngả về đằng sau, người cao ngổng, tay chân lòng thòng "như tay chân con rối dưới những sợi dây treo". Tuy nhiên, như trong thế giới cổ tích, ông đã cho phép mình được vẽ vời hoa lá chút ít. Ông tả với các cô gái như thể ông là một chàng trai trẻ hấp dẫn và đáng yêu.

Các cô gái nghe nhà thơ kể như bị bỏ bùa mê, đến độ xe đã dừng mà chẳng cô nào nhúc nhích. Khi người đánh xe nhắc, các cô mới chợt bừng tỉnh, choàng dậy. Họ lần lượt chia tay và cảm ơn Andersen bằng những cái hôn đầy quyến luyến.

Trên chuyến xe cùng đi hôm đó còn có một thiếu phụ. Dường như suốt lộ trình, nàng chỉ im lặng lắng nghe và nghiền ngẫm lấy từng lời của nhà thơ, rồi kín đáo thở dài hoặc cúi đầu trầm tư. Thi thoảng nàng cũng tham gia vào câu chuyện của ông, nhưng chỉ là để góp thêm vài ba câu "lấp lửng"...

Andersen đã nhanh nhạy đọc ra trong những câu "lấp lửng" ấy bao nhiêu ngụ ý.  Hơn thế, khi thiếu phụ cởi mở lòng mình mà giới thiệu với cô gái đi cùng chuyến xe: "Tôi là Elena... Tôi hiện ở Verona. Cô cứ hỏi nhà tôi thì người Verona nào cũng biết, họ sẽ chỉ cho cô... Hãy đến với tôi, ở cùng tôi đến tận cái ngày hạnh phúc mà ông bạn đường thân yêu của chúng ta (tức Andersen) đã tiên đoán cho cô"- thì Andersen hiểu ngay: Lời nói đó còn có ý nghĩa như một lời mời kín đáo dành cho chính bản thân mình.

Buổi tối hôm sau, có một người đàn ông ngoại quốc đã đến đứng trước ngôi nhà của một thiếu phụ trong phố hẹp dẫn tới pháo đài.

Sau hồi chuông kêu, đích thân Elena ra mở cổng. Hôm ấy, nàng mặc bộ quần áo bó sát người nên càng tôn vẻ hấp dẫn. Nàng vô cùng mừng rỡ khi nhận ra qua ánh nến gương mặt người khách cùng đi trên chuyến xe đêm qua.

Nàng nắm chặt tay Andersen, đưa ông vào phòng. Những câu nói thốt lên ngay từ giây phút đầu chứng tỏ non một ngày nay nàng đã phải sống trong khắc khoải chờ đợi!

Điều này làm cho Andersen thấy lo sợ. Bẩm sinh ông là một người luôn mặc cảm về hình thức của mình. Một triết gia đã có những nhận định độc đáo và chính xác về Andersen: "Đó là một nhân vật đáng buồn cười trong một trường ca nào mới sống lại, bất ngờ hiện ra từ những trang thơ và quên mất bí quyết trở lại giá sách đầy bụi của thư viện". Là một con người của thế giới cổ tích, Andersen thường tỏ ra lúng túng trước thực tại, nhất là khi xảy đến với ông những trạng huống "phức tạp". Không phải Andersen chưa một lần biết đến cái gọi là "tình yêu". Nhưng chẳng khó khăn gì mà ông không hình dung ra: Chỉ ít ngày nữa thôi, cái "giây phút nhất thời" của Elena sẽ qua đi, bấy giờ trước mắt nàng, ông chỉ còn là một người đàn ông xấu xí, một nhân vật vô duyên và lạc lõng. Liệu đến khi ấy ông có còn giữ được sự thuần phác của tâm hồn, giữ được cái nhìn trong trẻo về cuộc sống, để rồi tiếp tục cầm bút thêu dệt nên những câu chuyện cổ tích thơ mộng dâng tặng bạn đọc khắp thế gian?

Bởi vậy, ý định của Andersen đến gặp thiếu phụ là để chia tay, chia tay vĩnh viễn. Ông nói:

- Tôi đến đây để từ biệt bà - Đoạn ông hạ giọng lẩm bẩm - Tôi sắp "trốn" khỏi Verona!

Thật ra, có những điều Elena đã linh cảm được từ trước. Chẳng qua nàng không muốn xác nhận nó. Bởi thế, khi nghe Andersen tiết lộ điều "đáng sợ hãi" ấy, nàng khẽ khàng nói:

- Tôi biết ông là ai rồi. Ông là Christian Andersen, nhà thơ và người viết truyện cổ tích danh tiếng. Nhưng hóa ra, trong cuộc đời ông lại sợ truyện cổ tích. Đến nỗi ông cũng chẳng có đủ nghị lực và can đảm, thậm chí cho một cuộc tình ngắn ngủi.

Andersen thú nhận rằng đó chính là "định mệnh" của đời mình.

- Vậy thì nhà thơ phiêu lãng thân yêu của em - Nàng chua chát nói và đặt tay lên vai Andersen - Anh hãy chạy đi. Chạy cho thoát! Chúc cho đôi mắt anh mãi mãi tươi cười. Đừng nghĩ gì đến em... Nhưng nếu một ngày kia, tuổi già, nghèo nàn và bệnh tật có làm anh đau khổ thì anh chỉ cần nhắn cho em một lời, em sẽ đi bộ vượt qua những núi tuyết và những sa mạc khô cằn để tới an ủi anh (ở đây Elena đã dụng ý nhắc tới nội dung câu chuyện tình cao cả mà Andersen đã kể lại cho các cô gái quê nghe trên chuyến xe ngựa đêm trước).

Thiếu phụ nói và gieo mình xuống ghế bành, hai bàn tay thon thon che mặt. Andersen nhận thấy những giọt nước mắt rỉ qua kẽ tay nàng. Ông vội quỳ xuống trước mặt Elena, áp mặt vào đôi bàn chân mềm mại, ấp áp của nàng...

Cuộc chia tay của họ diễn ra tức tưởi, vội vã như ma đuổi, xen kẽ với những giọt nước mắt...

Từ đó, không bao giờ hai người còn gặp lại nhau nữa, tuy kỷ niệm về một cuộc tình ngắn ngủi vẫn được họ nâng niu gìn giữ trong ký ức!

Ra đi ở tuổi bảy mươi, Andersen mãi mãi được xem là một người "trong trắng” (dùng chữ của Paustovsky thì Andersen "cho đến khi chết vẫn nguyên vẹn là một đứa trẻ"). Nhận định này không chỉ đúng nếu nhìn từ góc độ hôn nhân, mà từ thực tế đời tư của ông (gần đây, trong cuốn "Andersen và những người bạn gái", nhà nghiên cứu Bush Kinbai cũng đã khẳng định lại điều đó. Theo tác giả phân tích: Nếu quả thực Andersen từng có - dù chỉ một lần trong đời - quan hệ tình dục với phụ nữ, thì điều đó ít nhiều cũng sẽ để lại "dấu ấn" trên trang viết của ông).

Vì một sứ mệnh cao cả, Andersen đã buộc phải quay mặt, chối bỏ tình yêu! Nỗi đau ấy ông đã ghìm sâu trong lòng, chỉ đến khi sắp giã biệt cuộc đời ông mới thổ lộ với một nhà văn trẻ:

Tôi đã trả bằng một giá đắt, có thể nói vô cùng đắt cho những truyện cổ tích của tôi. Vì chúng, tôi đã chối bỏ hạnh phúc mà lẽ ra tôi được hưởng...

Trần Trọng Nghĩa

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.