Có điều, trong rất nhiều trường hợp, những thiện chí được diễn giải rất lưu loát ở Washington lại chỉ mang thêm nhiều trái đắng ở những nơi mà người Mỹ nói rằng chỉ muốn gieo cái gọi là những “hạt giống dân chủ”. Danh sách những nạn nhân này khá dài: Iraq, Lebanon, Syria và dĩ nhiên cả Afghanistan…
Thực trạng u ám
Trong Thông điệp liên bang đọc trước Quốc hội Mỹ ngày 12/2/2013, Tổng thống Barack Obama đã thêm một lần tuyên bố rằng tới cuối năm 2014, có thể coi như cuộc chiến tranh của người Mỹ ở Afghanistan sẽ chính thức kết thúc. Từ mùa xuân năm nay, binh lính Mỹ ở Afghanistan sẽ chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho các lực lượng quân sự sở tại trong sứ mệnh đảm bảo an ninh ở quốc gia châu Á nhiều núi non và cừu hận này. Cho tới thời điểm hiện nay đã có khoảng 33 nghìn binh lính Mỹ đã được đưa trở về nhà từ Afghanistan. Trong thời gian tới sẽ còn có khoảng thêm 34 nghìn người Mỹ hồi hương. Và các đợt rút chân lực lượng quân sự Mỹ ra khỏi chiến trường này sẽ được hoàn tất vào cuối năm 2014.
Thế nhưng, thực tế cho thấy tình hình ở Afghanistan hiện nay và trong tương lai gần sẽ không dễ trở nên sáng sủa đến mức lực lượng an ninh quốc gia Afghanistan (ANSF) có thể đương đầu ngang bằng được với các thế lực thù địch, đặc biệt là những đội quân thiện chiến và rất cuồng tín của phong trào Taliban.
Theo nhận định của nhà phân tích người Afghanistan, Syed Aqa Fazil Sancharaki, trong cuộc trả lời phỏng vấn phóng viên Tân Hoa xã, ANSF hiện đang vẫn phải đối mặt với hàng loạt các hạn chế, cụ thể như tình trạng thiếu thốn các loại vũ khí hạng năng, pháo binh và lực lượng không quân yếu ớt… Thêm vào đó là vấn nạn tham nhũng nặng nề trong hàng ngũ quan chức và tình trạng các phần tử chống đối trà trộn vào lực lượng an ninh của chính phủ. Những điều này làm cho triển vọng an ninh ở Afghanistan càng trở nên bất trắc trong tương lai.
Không ngẫu nhiên mà nhiều nhà quan sát ở thời điểm hiện nay vẫn không tin là Washington lại có thể rút hết được binh lính của mình ra khỏi chiến trường Afghanistan. Liên quân quốc tế đang duy trì tại quốc gia châu Á này khoảng 100 nghìn quân, trong đó có hơn 60 nghìn quân Mỹ. Theo những tính toán ở Washington, ngay cả sau thời điểm cuối năm 2014, tại Afghanistan vẫn sẽ còn có khoảng từ 6.000 tới 20.000 quân Mỹ, được hưởng quy chế miễn truy tố và thực hiện những nhiệm vụ hỗ trợ không phải là trực tiếp cầm súng chiến đấu.
Vụ mùa đẫm máu
Còn nhớ, cách đây hơn chục năm binh lính Mỹ đã tràn vào Afghanistan với danh nghĩa chống lại chủ nghĩa khủng bố trong một lực lượng liên quân quốc tế của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Lực lượng này có thời điểm đã lên tới trên 130 nghìn người. Thế nhưng, hiện nay, Washington đang phải chấp nhận tình cảnh ôm đầu máu ra đi, bất chấp những tuyên bố hào sảng của các nhà lãnh đạo Mỹ theo kiểu Tổng thống Obama đã đọc trước Quốc hội: “Chúng ta có thể tự tin nói rằng, nước Mỹ đã hoàn thành sứ mệnh của mình ở Afghanistan và đạt được mục tiêu của chúng ta là đánh bại được lực lượng nòng cốt của Al-Qaeda…”.
Sự thực là, Washington đã bị tiêu hao quá nhiều sinh lực trong các chiến dịch quân sự ở Afghanistan, tác động rất tiêu cực nặng nề đối với nền kinh tế Mỹ mà không đạt được một biến đổi rõ rệt nào ở đây. Hơn 1,4 nghìn tỉ USD đã bị đốt thành mây khói tại Afghanistan. Theo đánh giá của nhiều nhà quan sát, quyết định rút quân đội Mỹ ra khỏi Afghanistan không chỉ là lời hứa hẹn chính yếu trong chiến dịch vận động tranh cử Tổng thống của ông Obama, mà còn là giải pháp bị động bắt buộc phải thực hiện vì đã tới lúc Nhà Trắng phải liệu cơm gắp mắm và hạn chế bớt các tham vọng ngoại vi cho thích hợp với hiện trạng nền kinh tế nội địa.
Thế nhưng, đúng như tiền nhân đã nói, khởi chiến đã khó nhưng kết thúc chiến tranh còn khó hơn nhiều. Tổng thống Obama đã phải rất lao tâm khổ tứ để tạo những điều kiện thuận lợi tối đa cho việc ra đi của các đơn vị lính Mỹ khỏi Afghanistan ít nhiều ngoạn mục: xây dựng một chính phủ sở tại đủ mạnh và một quân đội Afghanistan đủ năng lực thay thế liên quân quốc tế thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu. Thế nhưng trong thực tế, không phải muốn là được. Thoạt tiên Washington dự định sẽ triển khai kế hoạch rút quân đội ra khỏi Afghanistan theo đúng trình tự bài bản. Tuy nhiên, hiện giờ người Mỹ xem ra đang muốn “giũ áo mù sa” sao cho càng nhanh càng tốt chứ không quá bận tâm tới sự hợp lý của chiến thuật. Những ảo vọng cũ về việc quá trình rút quân đội Mỹ ra khỏi quốc gia Nam Á này sẽ được thực hiện đồng điệu với sự gia tăng năng lực tác chiến của quân đội sở tại đã tan thành mây khói. Cách hành xử của Washington cho thấy dường như họ đang muốn “bỏ của chạy lấy người” ra khỏi Afghanistan và càng ngày càng ít quan tâm tới những điều kiện đã được đưa ra từ trước.
Nếu trước đây Tư lệnh lực lượng NATO ở Afghanistan, tướng Mỹ John Allen (vừa về hưu ngày 19/2 vì lý do sức khỏe) đưa ra đề nghị để lại ở quốc gia Nam Á này khoảng gần 15 nghìn quân từ số 6 nghìn quân nhân đang đồn trú tại đó thì hiện nay, Nhà Trắng chỉ đồng ý với mức từ 6 tới 9 nghìn người. Và gần đây nhất, Phó cố vấn cho Tổng thống về an ninh Ben Rhods đã thông báo rằng Nhà Trắng đang xem xét về việc rút hết quân đội Mỹ ra khỏi Afghanistan. Nhìn từ góc độ những sự việc này, nói theo cách của bình luận viên quốc tế Sergei Valenkov trên website Pravda, bỗng dưng muốn hỏi, thế thì việc gì lại gây chiến ở ngoại vi như vậy, chẳng lẽ ở Washington còn ít những sự vụ cần phải giải quyết hay sao?!
Cái cớ để Nhà Trắng triển khai chiến dịch quân sự ở Afghanistan là thảm kịch khủng bố nhằm vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York ngày 11-9-2001. Và phong trào Taliban từng khá gần gụi với CIA trong những năm trước đó đã trở thành kẻ thù chính của Washington. Trong hơn 10 năm qua, liên quân NATO với 150 nghìn người đã đọ súng cùng với khoảng 27 nghìn phần tử Taliban nửa du kích, nửa du côn… Và kết quả là hiện trạng của đất nước Nam Á này khác rất xa với những gì mà người ta trông đợi. Những hạt giống gọi là dân chủ từ phương Tây đã không ra hoa kết trái được ở vùng đất cằn khô đá sỏi này. Trái lại, những xung đột đẫm máu cùng tệ nạn buôn bán thuốc phiện lại thừa cơ hoành hành. Tại Afghanistan, kể từ khi liên quân NATO tràn vào, sản lượng thuốc phiện thu hoạch hàng năm đã tăng lên gấp 40 lần.
Theo số liệu của LHQ, lợi nhuận mà Taliban (và có lẽ không chỉ Taliban) thu được nhờ buôn lậu thuốc phiện hàng năm đạt mức 2,8 tỉ USD… Gần 34 nghìn dân thường đã bị giết trong suốt giai đoạn vừa qua kể từ khi chiến tranh bùng nổ ở đây. Rất nhiều đợt tấn công của liên quân quốc tế nhằm vào lực lượng khủng bố hóa ra lại toàn sát hại người vô tội. Trên các phương tiện thông tin đại chúng trong những năm qua thường xuyên xuất hiện những tin máy bay NATO “vì nhầm lẫn” đã sát hại dân thường ở Afghanistan. Không có con số chính xác nhưng theo một số thống kê, đã có khoảng 10 nghìn người Afghanistan vô tội bị binh lính NATO “giết nhầm”.
Gần đây nhất, ngày 13/2, khi NATO không kích hỗ trợ lục quân Afghanistan nhằm vào nơi ẩn náu của Taliban ở khu vực hẻo lánh miền Đông, đã làm ít nhất 10 dân thường Afghanistan, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em, thiệt mạng. Vụ việc này đã buộc Tổng thống Afghanistan Hamid Karzai tuyên bố cấm lục quân nước này yêu cầu lực lượng liên quân do NATO đứng đầu hỗ trợ các chiến dịch truy lùng phiến quân bằng các cuộc không kích có thể gây thương vong cho dân thường vô tội.
Tính tới thời điểm hiện nay đã có khoảng 4,5 nghìn quân nhân NATO bị chết trên chiến trường Afghanistan.
Đó chính là vụ mùa đẫm máu đang được thu hoạch từ cuộc chiến chống khủng bố mà phương Tây đã khởi xướng dưới sự cầm chịch của Washington.
Càng đánh càng loạn
Không chỉ một mình Afghanistan phải ở trong thảm kịch như thế khi bị chọn lựa làm mục tiêu thảo phạt của Washington. Iraq cũng đã bị thay đổi chế độ cầm quyền và trong gần một thập niên qua vẫn liên tục phải sống trong tình trạng bạo lực triền miên. Cuộc chiến Iraq đã làm hàng chục nghìn người Iraq và người Mỹ ngã xuống. Gần một nghìn tỉ USD đã tan thành mây khói ở đây. Thế nhưng, cho tới nay vẫn chưa có một ngày yên ổn trên mảnh đất này. Có cảm giác như người Mỹ chỉ quan tâm độc nhất tới những nguồn lợi “vàng đen” nằm trên lãnh thổ Iraq. Không ngẫu nhiên mà nhiều nhà quan sát đã khẳng định rằng, thực chất Washington khởi xướng ra cái gọi là cuộc chiến chống khủng bố ở Iraq bằng cái cớ ngụy tạo nhằm vào Tổng thống Saddam Hussein chỉ là để nắm lấy nguồn dầu mỏ khổng lồ ở đây. Kết quả là hơn 20 triệu người Iraq đã bị rơi vào tình cảnh bần hàn và loạn lạc.
Theo số liệu của LHQ, từ đầu năm 2013 tới nay đã có tói 9 nghìn người Syria phải trở thành nạn nhân của cuộc đụng độ đầy tính nội chiến giữa quân chính phủ của Tổng thống Bashir al-Assad với lực lượng đối lập. Kể từ khi đụng độ quân sự bùng phát ở đây đã có khoảng hơn 70 nghìn người bị chết… Trong biến cố Syria cũng đã hiện rất rõ dấu vân tay của Washington. Người Mỹ đã và đang tài trợ cho lực lượng đối lập ở Syria để họ tiếp tục chiến đấu chống lại chính phủ…
Trong Thông điệp Liên bang, Tổng thống Mỹ Obama cũng đã thêm một lần tuyên bố là “sẽ tiếp tục gây áp lực lên chính phủ Syria và ủng hộ lực lượng đối lập”. Tương tự như thế, trước đó ở Libya, các cơ quan tình báo phương Tây, đặc biệt là CIA, đã hỗ trợ cho những can qua lật đổ và sát hại nhà lãnh đạo Moammar Gaddafi. Dưới thời của nhà lãnh đạo này, người dân Libya đã từng có một cuộc sống khá giả và yên ổn. Giờ đây, Libya đang là một trong những tâm điểm bất ổn ở Bắc Phi.
Trong danh sách những quốc gia mà Washington coi là những đối tượng có thể sẽ cần phải thanh trừng còn có CHDCND Triều Tiên và Iran với lý do, như Tổng thống Obama nhấn mạnh trong Thông điệp Liên bang: “Nước Mỹ sẽ tiếp tục dẫn đầu những nỗ lực ngăn chặn sự phổ biến những vũ khí nguy hiểm nhất thế giới”. Theo cách nhìn từ Nhà Trắng, nếu quốc gia nào không tuân theo các tiêu chí của họ thì sẽ không có cơ hội để có được an ninh và thịnh vượng. Điều đó có nghĩa là ở bất cứ thời điểm nào những quốc gia như thế cũng có thể bị máy bay Mỹ tới ném bom và gieo “hạt giống dân chủ”.
Triển vọng này không thể là vui đối với một thế giới đang tìm kiếm những cơ hội phát triển công bằng và hữu lý hơn