“Líp ba ga” với phương ngữ Nam Bộ

“Líp ba ga” là từ gốc Pháp phiên âm ra tiếng Việt. “Libre” có nghĩa là tự do. “Bagage” có nghĩa là hàng hoá, hành lý. Tiếng Pháp trôi sang Việt Nam, libre thường đi với bagage để trở thành một cặp từ thông dụng. Gọi là “líp ba ga” có nghĩa là thoải mái, trên mức bình thường, là “mát trời ông địa”. Và chỉ ở Việt Nam, từ “líp ba ga” mới có các nghĩa này.

Xuất phát từ chuyện chở khách của xe đò (ôtô khách) ở miền Nam xưa, trong lòng xe chất đầy khách; trên mui xe là một mớ hổ lốn hàng hoá: thóc gạo, trái cây, vịt gà, xe đạp… Sự chất chồng người và hàng hoá này rất “libre”, nên người ta xài từ “líp ba ga” luôn cho dễ tưởng ra sự quá tải. Và từ đó, bất cứ chuyện gì quá sức chịu đựng, quá sức mất trật tự thì dùng “líp ba ga”.

“Líp ba ga” không dùng cho những sự việc nghiêm túc. Không ai nói: “Mùa thi đến rồi, phải học bài “líp ba ga” nha!”. Mà chỉ dùng đại loại trong các trường hợp: “Thi cử xong rồi, chơi “líp ba ga” luôn”, “Vợ ông nội đó bỏ đi rồi nên ổng bồ bịch “líp ba ga”, “Phòng karaoke này cách âm tốt nên có quyền gào “líp ba ga”… Bây giờ, ai còn dùng từ “líp ba ga” có nghĩa đã thuộc týp người miền Nam “xưa nay hiếm”, tuổi cũng đã trên dưới sáu mươi. Từ dùng cửa miệng cũng “có thời” như quần áo, đồ ăn thức uống và nó sẽ thay đổi theo thời gian, theo thị hiếu vùng miền. Như bây giờ, cái cảm giác, cái tình huống “líp ba ga” vẫn xảy ra hằng ngày; nhưng dân hay nói tiếng lóng sẽ dùng từ “quá hớp”, “quá cỡ thợ mộc”, “bung nóc”, “bung nhà lồng”… Ví dụ: “Mẹ nó vắng nhà nên nó quậy bung nóc”.

Có câu chuyện vui. Nàng dâu sợ mẹ chồng khó khăn nên ít khi dám ăn uống thoải mái ở nhà chồng, lúc nào cũng còn thiếu đói, cũng còn thòm thèm. Một hôm, nàng dâu nấu nồi chè bự chảng ăn cho đã thèm. Chè chín, mẹ chồng nói đi xóm chơi, nàng dâu ở nhà múc một tô chè mang vô góc buồng tối ăn. Xớn xác bước vô buồng, nàng dâu hết hồn thấy mẹ chồng cũng đang ngồi ăn chè. Bực mình, mẹ chồng lớn tiếng hỏi: “Nhà tao, tao muốn ăn chỗ nào tao ăn, mày bưng chè vô đây ăn cho kiến nó bu theo hơi đường cắn tao hả?”. Nàng dâu khôn ngoan trả lời thỏ thẻ: “Dà, con biết má thích chè, con múc thêm tô nữa mang vô cho má ăn “líp ba ga” đã thèm!”. Này nàng dâu, nàng tuổi gì mà dám cho mẹ chồng ăn chè “líp ba ga”, hả? “Lúa” đời con rồi con ơi.

“Lúa” ở đây có nghĩa “tiêu đời”, “tàn đời” con rồi đó. Khôn ngoan cách mấy mà làm “tổn thương” mẹ chồng là coi như “xong phim”. Đặc biệt từ “lúa” được hiểu như một tính từ kiểu này không có trong từ điển tiếng Việt, mà cũng ít người miền Nam bây giờ còn nhớ còn dùng. Đi ăn tiệc, tới trễ, thức ăn không còn, chỉ còn “có nước” rửa chén, chủ nhà hỏi: “Sao giờ này mày mới tới, lúa rồi!”. “Lúa” ở đây có nghĩa xui rồi, không còn gì ăn hết. Còn một “lúa” tính từ khác mà người miền Nam hay dùng: “Cái thằng đó, nhìn cái mặt lúa “chít mị”a mà bày đặt thi thố với hát hò!”. “Lúa” ở đây là khờ, là nhà quê, là “phèn” mấy nước rửa không hết.

Xe đò ở miền Nam trước năm 1975.
Xe đò ở miền Nam trước năm 1975.

Ngộ ngộ như từ “líp ba ga”, “lúa”, “phèn”… người miền Nam xưa có từ “dả” với “anh da”. Ví dụ: “Được ngoáy lỗ tai, dả khoái tỷ ngủ luôn một giấc”. “Dả” ở đây là nó, ông ấy, bà ấy, anh ấy, chị ấy, con đó, thằng đó - nói chung là ngôi thứ ba số ít, người nghe tuỳ theo ngữ cảnh và tuổi tác đối tượng được đề cập mà điền vào chỗ trống cho thích hợp. Tương tự, “anh da” cũng vậy. Nhưng “anh da” chỉ đề cập đến người cùng trang lứa và hàm ý gần gũi, thân ái. Ví dụ: “Ê mày, tao nói chơi mà anh da tưởng thiệt, chạy mất dép luôn!”.

Có chàng rể tương lai về ra mắt cha mẹ vợ lần đầu tiên. Tính tình chàng rể bỗ bã, hời hợt, ăn nói thiếu nhìn trước trông sau. Bà mẹ vợ tương lai kêu chàng rể ra vườn mời cha vợ tương lai vô ăn cơm. Hoàn thành nhiệm vụ, chàng rể bước vô nhà nói với mẹ vợ: “Anh da ảnh nói còn phải tưới thêm mấy nọc trầu nữa, mình đợi dả chút nha má!”. Xui cho dả (chàng rể) là ông cha vợ theo liền ngay sau đó và nghe được câu chuyện “anh da”, cha vợ cho rằng dả thiếu lễ độ phép tắc với người trên nên dả bị rớt đài. Ở đồng bằng sông Cửu Long, tương tự như “anh da” và “dả” có từ “y”. Ví dụ: “Anh Hai nói cuối tuần về, mà không biết y có nhớ mua giùm con mớ bông lá é không”. Có một câu, mấy ông Tây mới học tiếng Việt nghe xong, khóc tiếng Tàu luôn: “Y ỷ giàu, Y ỷ có tiền cho nên muốn chửi ai thì chửi hả? Không có cửa đâu, bày đặt ỷ ỷ coi chừng có ngày chúng quánh”.

Còn từ “sức mấy” cũng hay hay nữa. Ví dụ: “Thằng đó nó xạo như quỷ, sức mấy mà tao tin”. Hiểu nhanh, “sức mấy” là còn lâu, là không bao giờ. Nhưng nghĩ cho tường tận thì không hiểu từ “sức mấy” này từ đâu ra. “Sức mấy” là gì? Là không đủ bao nhiêu sức để nghĩ, nói hoặc làm một điều gì đó? Ví dụ: “Sức mấy mà nó đi bộ qua được cánh đồng này, nói dóc!”, “Sức mấy mà nó có đủ tiền để mua con xe này”. Nói chung là đối tác được đề cập không đủ sức và không đáng để được tin tưởng hoặc chứng minh một điều gì đó. 

Dân miền Nam đa số còn “chịu chơi” hết mình với kiểu “enjoy” (tận hưởng) nữa, nên chẳng mấy khi giàu, có nhiêu xài nhiêu, lúc sắp hết tiền mới đi cày kiếm tiếp. Có một thực tế là, miền Nam đất lành chim đậu, thường xuyên có các cuộc di dân từ miền Trung miền Bắc vô. Thời gian dài sau, mười năm hai mươi năm chẳng hạn, ai giàu lên cứ giàu, chứ cái anh Nam Bộ vẫn cứ “sống tà tà cánh nhạn”, ai hưởng gì “dả” hưởng đó nhưng tiền không có dư. “Dả” không thể làm giàu như mấy anh di dân miền Bắc miền Trung chịu thương chịu khó, biết tiết kiệm, biết ăn ngày nay lo ngày mai ngày mốt ngày kia ngày kỉa ngày kìa. 

“Chịu chơi chơi tới chiều”, “chơi xả láng sáng dậy sớm” tự bao giờ đã là thuộc tính của anh hai Nam Bộ. Thuộc tính này tuy có “cái hại” là không có tiền dự trữ, không bao giờ làm giàu được nhưng anh hai Nam Bộ luôn sống khề khà thoải mái - hiểu là chân thành dễ chịu dễ tính. Tới nhà anh hai Nam Bộ chơi, nhà tranh nền đất vách đất, chịu khó phủi chân ngồi xuống đất chơi chừng tiếng đồng hồ là có nồi cháo gà nóng hôi hổi dọn ra đãi khách. Nhấm nháp gỏi gà bóp với rau răm bắp chuối, đưa cay vài ly rượu chuối hột rồi muốn nói gì nói. Có gì khó khăn đâu, gạo xay từ lúa nhà trồng, gà nhà nuôi, bắp chuối rau răm chuối hột cũng nhà trồng luôn, các thứ đều xanh và sạch như tấm lòng anh hai Nam Bộ vậy!

Anh hai Nam Bộ mà đối đãi ân tình như vậy trong lúc có việc cần đi gấp thì má tôi sẽ thốt lên: “Nồi đồng nồi đất ơi, bữa khác ăn cháo gà anh hai ơi, giờ tui đi có việc gấp”. “Nồi đồng nồi đất ơi” ở đầu câu hay cuối câu trong câu nói của một bà má Nam bộ rặt như má tôi là “cảm thán từ”, giống như “trời đất ơi” vậy. Nhưng mấy bà nhà quê nói, đất gần trời xa mà cứ “kiu quài” như vậy là không nên. Bà đất có thể nghe được, nhưng ông trời thì không. Kêu người nghe người không sẽ không được hai bên thấu hiểu hoặc thấu hiểu lộn xộn thì sẽ không hay cho người kêu. Đây cũng chỉ là một cách suy diễn. 

Có cách giải thích này hợp lý hơn, dễ chấp nhận hơn: Trời đất là những thế lực thiên nhiên linh thiêng mà người nông dân thờ cúng xưa nay, không phải khi ngạc nhiên hay bất bình đều có quyền kêu trời kêu đất, thiếu gì thứ gần gũi thân thiết có thể kêu được mà không ảnh hưởng gì. Ví dụ nồi đồng nồi đất vậy. Nồi đồng nồi đất là hai vật thiết thân với người nông dân Nam Bộ xưa. Thời ngoại tôi còn nhỏ, người ta thường nấu ăn bằng nồi đồng. Sau này ngoại lớn hơn xíu, chiến tranh chống Pháp bùng nổ, hưởng ứng “tiêu thổ kháng chiến”, nhà nhà góp nồi đồng ấm đồng mâm đồng cho quân ta nấu chảy đúc làm vũ khí. Không còn nồi đồng ấm đồng mâm đồng, người nông dân chuyển sang xài nồi đất ấm đất mâm gỗ. Cho nên kêu “nồi đồng nồi đất ơi” là hợp lý, không sợ trời đất nào bắt tội.

Phương ngữ Nam Bộ cực hay nếu bạn chịu khó ngược dòng thời gian tìm hiểu nó. Mỗi từ mỗi câu đều có dấu ấn lịch sử hay xã hội của địa phương đó. Dấu ấn đậm nhất trong các cách dùng văn nói thường “lai Tàu” hay “lai Pháp”. Phải thôi, bởi đất nước Việt Nam nhỏ bé của chúng ta có bao giờ yên ổn lâu dài đâu. Mà những dấu ấn gần gũi này, người hậu sinh như chúng ta bây giờ dễ hình dung hơn, dễ chấp nhận hơn.

Nguyễn Thị Thu Trân

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).