Lịch sử y học kỳ thú của chuột thí nghiệm

Loài gặm nhấm ở phòng thí nghiệm đã được sử dụng trên các thử nghiệm động vật trong suốt hơn 150 năm qua, và số lượng những thí nghiệm dạng này vẫn đang đà tăng theo cấp số nhân.

“Những con dao y sinh” lợi hại

Hơn 20 năm trước, 2 nhà nghiên cứu y khoa của Đại học Harvard là các ông Joseph và Charles Vacant đã dẫn đầu một nhóm nghiên cứu và thành công vang dội khi trồng thành công một mảnh sụn tai người trên lưng một con chuột thí nghiệm. Thí nghiệm này đã sử dụng một khuôn hình cái tai chứa đầy các tế bào sụn của một con bò.

Do những tương đồng về di truyền và sinh lý mà chuột thí nghiệm trở thành cốt lõi trong các nghiên cứu động vật
Do những tương đồng về di truyền và sinh lý mà chuột thí nghiệm trở thành cốt lõi trong các nghiên cứu động vật

Đầu tiên "cái tai" được đặt trong lồng ấp, và khi nó lớn lên lại được cấy vào cơ thể của một con chuột trụi lông (một loài chuột thí nghiệm đặc biệt bị đột biến di truyền vốn do một cơ quan tuyến ức bị thoái hóa hoặc vắng mặt, gây ức chế hệ miễn dịch của con chuột và khả năng loại bỏ các mô ngoại lai). "Chuột tai" hay chuột Vacanti tiếp tục mọc mảnh mô tai ra khỏi lưng nó cho đến khi họ tạo nên hình hài của một cái tai người hoàn chỉnh. Năm 1997, nhóm nghiên cứu Joseph và Charles Vacanti đã công bố công trình nghiên cứu của họ trên tạp chí Phẫu thuật tái tạo và tạo hình.

Thí nghiệm này được thiết kế nhằm thử nghiệm khả năng mọc mô và cấy ghép sau này cho các bệnh nhân con người. Và chỉ tới năm 1998, một bệnh nhi ở Trung Quốc mắc một khiếm khuyết di truyền gọi là "Hội chứng biến dạng tai ở trẻ nhỏ" (microtia), bệnh này ngăn không cho tai ngoài phát triển một cách hợp lý, bệnh nhi đã nhận một đôi tai mới toanh với tế bào của riêng bệnh nhi - quy trình này tương tự với việc mọc "tai" trên "chuột tai".

Con chuột với cái tai người trên lưng là một trong những thí nghiệm kỳ quặc nhất đã được biết đến, mặc dầu vậy những thí nghiệm khoa học có sử dụng chuột thì đã có từ khoảng năm 1902 khi nhà lai tạo "gàn dở" Abbie E.C.Lathrop đã sớm nhận ra tiềm năng của động vật trong nghiên cứu di truyền. Tuy nhiên, việc dùng chuột thí nghiệm thậm chí còn bắt đầu sớm hơn thế nữa, cụ thể là trong thập niên 1850.

Các nhà khoa học đã mua những con chuột từ các nhà lai tạo chuyên nghiệp được biết tiếng như là "người sành sỏi chuột", những người này đã đánh giá cao chúng như là một loài vật cảnh đáng yêu bởi lớp lông mềm mại. Suốt hàng thập niên, chuột thí nghiệm nói chung đã tạo ra những tiến bộ y khoa và khoa học vĩ đại, từ nghiên cứu ra thuốc ung thư, thuốc kháng virus HIV và chủng ngừa cúm.

Giống chuột thí nghiệm (Mus musculus) tức chuột nhà là những con dao y sinh lợi hại, bộ gene của chúng rất dễ thao tác trong các nghiên cứu di truyền. Tuy nhiên sinh lý học của cơ thể con người lại gần gũi hơn với giống chuột Na Uy (Rattus norvegicus) và các chủng khác nhau của loài chuột này. Chuột cũng dễ huấn luyện và tỏ ra thích hợp với các điều kiện thí nghiệm tâm lý, đặc biệt là liên quan tới những mạng lưới thần kinh gần kề với chúng.

Chuột thí nghiệm cũng lớn hơn chuột hoang dã với đuôi dài và mõm màu xanh. Nhưng cả 2 loài đều gây tai họa cho các thành phố, cho đến khi các nhà khoa học tìm ra đối tượng thí nghiệm hoàn hảo nhất: chuột lang nhà. Chúng sinh sản cực kỳ nhanh, rất dễ thương, linh hoạt, dễ thích ứng và ăn tạp. Ông Manuel Berdoy, nhà Động vật học của Đại học Oxford, phát biểu: "Nó chén đẫy mọi thứ xinh xắn!". 

Thêm nữa, kích thước nhỏ bé của chuột lang nhà cũng dễ dàng lưu trữ chúng trong kho nhỏ của các phòng thí nghiệm, loài chuột này cũng chia sẻ nguồn gốc tiến hóa với con người, đồng nghĩa rằng bộ gene của chuột lang nhà hoàn toàn trùng lắp với con người. Kết quả là, loài chuột ngự trị các phòng thí nghiệm và chiếm gần 95% trong số các loài động vật thí nghiệm. Chỉ trong vòng 4 thập kỷ qua, số lượng các nghiên cứu có sử dụng chuột đã tăng gấp 4 lần; trong khi đó số lượng các bài báo khoa học dựa trên chó, mèo và thỏ vẫn giữ nguyên không đổi.

Chuột Vacanti với một mảnh sụn tai người đang mọc ló ra ngoài
Chuột Vacanti với một mảnh sụn tai người đang mọc ló ra ngoài

Năm 2009, chỉ riêng các bài báo nghiên cứu về chuột thí nghiệm gấp 3 lần so với cá ngựa vằn, ruồi giấm và giun đất gộp lại. Những nghiên cứu dựa trên loài gặm nhấm đã giải quyết mọi thứ từ thần kinh học và tâm lý học, cho đến thuốc và bệnh tật. Các nhà nghiên cứu đã cấy thiết bị điện tử vào não chuột để kiểm soát các chuyển động của chúng, lập lại việc xét nghiệm các đặc tính gây nghiện của cocaine trên chuột, sử dụng phương pháp "sốc điện" trong não người ở sọ chuột, hay dùng chuột trong các mê cung thí nghiệm vô tận khác.

Thậm chí NASA còn giữ chuột lang nhà trên Trạm vũ trụ quốc tế (ISS) dùng để thí nghiệm về trọng lực. Rất nhiều thí nghiệm hàng ngày dựa trên chuột lang nhà đã diễn ra ngoài tầm mắt của công chúng. Nhưng cuộc sống của loài gặm nhấm trong phòng thí nghiệm có thể giữ chìa khóa về sự hiểu biết và cải thiện vai trò của chúng trong các khám phá khoa học.

Tranh cãi về quyền lợi động vật

Các nhà khoa học phải hoàn thành những bài huấn luyện đạo đức cho chuột lang nhà trước khi họ được cấp phép để tiến hành các thí nghiệm với động vật, mặc dù luật lệ rất khác nhau tùy thuộc vào nơi diễn ra thí nghiệm. Trong khi các nhà khoa học Canada và Châu Âu được giám sát bởi một cơ quan quản lý quốc gia, thì luật lệ tại các cơ sở nghiên cứu ở Mỹ lại hay thay đổi từ bản hướng dẫn của Viện y tế quốc gia (NIH).

Đạo luật phúc lợi động vật Mỹ, AWA dùng để bảo vệ các loài động vật dùng trong nghiên cứu bao gồm cả chuột lang nhà. Phần lớn các đại học tại Mỹ sẽ cung cấp một khóa huấn luyện cho sinh viên biết cách xử lý động vật như giảm thiểu âu lo và chấn thương. Những cách tiến hành tốt nhất được cập nhật mới hàng năm, đã phản ánh sự hiểu biết về loài gặm nhấm và sự cần thiết của chúng. Sau cuộc nghiên cứu vào năm 2010 đăng trên tờ Nature đã chỉ ra rằng việc quan tâm đến đuôi chuột có thể khiến chúng thêm lo âu.

Chuột thí nghiệm được cấy não để theo dõi các hoạt động thần kinh. Một nhà khoa học đang cho nó uống nước ép táo.
Chuột thí nghiệm được cấy não để theo dõi các hoạt động thần kinh. Một nhà khoa học đang cho nó uống nước ép táo.

Các nhà khoa học muốn thử nghiệm với loài gặm nhấm sẽ buộc phải điền vào một mẫu kê khai nhằm giải thích tại sao công việc đó lại phải dùng đến động vật thí nghiệm. Các ứng dụng được đánh giá dựa trên bộ khung 3 chữ R, gồm giảm số lượng động vật sử dụng, thay thế loài động vật khác khi có thể, và hoàn thiện các thí nghiệm để cải thiện phúc lợi động vật.

Những điều kiện nhà ở cho loài gặm nhấm đã trở thành đề tài tranh luận của những người bảo vệ phúc lợi động vật thí nghiệm. Họ cho rằng kích thước của những lồng nhốt chuột lang nhà với quy mô nhỏ bé cũng làm giới hạn những hành vi tự nhiên của chúng như đào hang, leo trèo hay thậm chí là đứng thẳng.

Mặc dù chuột thí nghiệm và chuột hoang dã khác nhau về di truyền, nhưng chúng lại có bản năng giống nhau. Việc kìm hãm các nhu cầu này có thể khiến những con chuột buồn và làm giảm chất lượng của các phát hiện khoa học.

Nhà động vật học Manuel Berdoy cho rằng các nhà khoa học nên quan tâm tới bản chất tự nhiên của chuột lang nhà khi dùng chúng vào các thí nghiệm để cho ra kết quả tốt nhất. Ông Berdoy nhấn mạnh: "Khi mang chuột vào các thí nghiệm, quý vị cần chú tâm đến hạt giống sinh học hơn là chống lại nó".

Trong một số trường hợp, những tác động chống lại hạt giống sinh học đã được quan sát rõ. Trong một nghiên cứu từ năm 2010 về những tác động của chế độ ăn kiêng nhịn ăn gián đoạn, ông Mark Mattson, Trưởng phòng thí nghiệm thần kinh học tại Viện lão hóa quốc gia Mỹ (NIA) đã ghi nhận có những tác động thần kinh tích cực mà chuột phòng thí nghiệm đã phản ứng với chế độ ăn uống, chúng ăn uống lành mạnh như con người. Hệ miễn dịch của chúng không bị thách thức bởi các virus hay vi khuẩn khác nhau.

Nhìn chung, quá trình chuyển đổi một thí nghiệm từ loài gặm nhấm sang con người không có gì là quá khó hiểu. Bên cạnh hàng tá giấy tờ thì việc thử nghiệm thuốc mới đòi hỏi phải áp dụng trên 2 đối tượng động vật cùng lúc: một đối tượng nhỏ như chuột lang nhà, và một đối tượng lớn hơn như lợn, chó hay linh trưởng, trước khi chuyển qua thử nghiệm lâm sàng trên con người.

Theo tổ chức Các nhà nghiên cứu và sản xuất dược phẩm Mỹ (PRMA) thì trong số 250 hợp chất được xét nghiệm trên động vật chỉ có 1 hợp chất được dùng lâm sàng cho người. Với những đối tượng được phê duyệt, toàn bộ quá trình sẽ mất từ 10 đến 15 năm. Thậm chí ngay cả khi mất một thời gian dài thử nghiệm lâm sàng trên con người, thì nhiều loại thuốc và thủ tục dựa trên chuột lang nhà cũng không áp dụng cho con người.

Trăn trở về thuốc từ động vật

Khi một loại thuốc không hiệu quả, kết quả thường gây ra nhiều thất vọng hoặc có khi là thảm họa. Thalidomide, một loại thuốc dùng để điều trị chứng ốm nghén trong các thập niên 1950, 1960, đã gây ra một loạt các dị dạng ở trẻ em sơ sinh dù trước đó thuốc đã thử nghiệm thành công và không gây hại cho động vật. Thuốc Thalidomide phân rã nhanh hơn ở chuột, và phôi của chúng có khả năng phòng ngừa ô xy hóa cao hơn chống lại các tác dụng phụ gây khó chịu. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, lý do khiến thuốc thất bại trên con người vẫn còn là một bí ẩn.

Ông Richard Miller, Giáo sư về Bệnh lý học tại Đại học Michigan tuyên bố: "Đây là một trong những câu hỏi trọng tâm của nghiên cứu y học. Không ai có câu trả lời hay, và cũng không có câu trả lời hoàn hảo. Không phải cứ thuốc hoạt động tốt ở động vật thì sẽ làm việc hiệu quả ở con người".

Ngoài ra số lượng loài gặm nhấm chết cũng là chuyện đáng phải bàn. Vì lợi ích khoa học, ước tính 100 triệu con chuột thí nghiệm đã lên "đài hóa thân" mỗi năm chỉ tính riêng tại Mỹ. Khi một số xác chuột được xử lý làm thức ăn cho chim chóc tại các sở thú, thì phần lớn xác được đem đi đông lạnh và hỏa thiêu cùng với chất thải sinh học. Hầu hết sau khi kết thúc một cuộc nghiên cứu, mạng sống của chuột thí nghiệm cũng mất luôn. Thường thì chúng được cho vào lồng kín rồi bị chết ngạt bằng carbon dioxide. CO2 được cho là cách kết liễu có đạo đức nhất đối với các động vật thí nghiệm.

Bà Joanna Makowska, giáo sư trợ giảng tại Viện phúc lợi động vật và cố vấn động vật thí nghiệm của Đại học British Columbia (Canada), phát biểu: "Ngộ độc bằng CO2 là một cách bắt chước trạng thái hết hơi khi ai đó chìm dưới nước, nó gây ra lo lắng và sợ hãi. Chết như thế không hay chút nào. Gây mê có vẻ nhân đạo hơn, nhưng người ta không làm vì sau rốt CO2 vẫn là cách thực hành dễ và rẻ tiền hơn".

Tại Đại học Harvard, các nhà nghiên cứu đã tạo ra một cơ phận có gắn chip dùng để nghiên cứu thuốc và các mô hình bệnh tật mà không cần đụng tới các đối tượng động vật. Thậm chí các nhà nghiên cứu đã phát triển ra những thuật toán máy tính dựa trên hàng ngàn thử nghiệm động vật, và có thể dự đoán chính xác cách mà các mô sẽ tương tác với những hợp chất nhất định.

GS Joanna Makowska khẳng định: "Tất cả đều do cách nghĩ mà thôi. Người ta nuôi chó, nuôi mèo và bầu bạn với chúng. Riêng số lượng chuột lang nhà bị giết hại mỗi năm sẽ không là gì nếu so với những con chuột hoang dã lạc vào thành phố mà hễ thấy chúng là con người tìm cách giết cho kỳ được".

Nguyễn Thanh Hải

Các tin khác

AI và mặt trận an ninh phi truyền thống

AI và mặt trận an ninh phi truyền thống

Nếu động cơ hơi nước thúc đẩy cách mạng công nghiệp, Internet mở ra kỷ nguyên kết nối toàn cầu thì trí tuệ nhân tạo (AI) đang định hình nền văn minh số của thế kỷ XXI. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn, công nghệ này cũng bị các tổ chức tội phạm, mạng lưới lừa đảo và các nhóm cực đoan lợi dụng để gia tăng quy mô, mức độ tinh vi của các cuộc tấn công mạng, gian lận tài chính hay thậm chí là khủng bố.

Cuộc chiến của niềm tin

Cuộc chiến của niềm tin

Có những thứ vũ khí không phát ra tiếng nổ. Nó không để lại hố bom, không làm rung cửa kính, cũng không hiện lên trên bản đồ quân sự. Nhưng, nó âm thầm đi vào điện thoại, bảng tin, nhóm chat, những cuộc tranh luận gia đình và cả lá phiếu của cử tri. Tin giả, trong hình hài mới của thời trí tuệ nhân tạo (AI), đang trở thành một thứ vũ khí như thế.

Phát động cao điểm thi đua 70 ngày đêm lập thành tích xuất sắc chào mừng kỉ niệm 70 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát kinh tế

Những người gác cửa vùng kinh tế Đông bắc

Suốt hơn 45 năm xây dựng và trưởng thành, từ 14 cán bộ, chiến sĩ đầu tiên đến đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu và môi trường Công an tỉnh Quảng Ninh đã lặng lẽ giữ vững trận tuyến bảo vệ nền kinh tế, đấu tranh với tham nhũng, buôn lậu, hàng giả và tội phạm kinh tế, góp phần giữ gìn kỷ cương pháp luật, môi trường đầu tư và sự bình yên của nhân dân đất mỏ.

Kỳ I: Pháo đài “Mắt cáo” và “Tam giác vàng” hợp phì

Kỳ I: Pháo đài “Mắt cáo” và “Tam giác vàng” hợp phì

Trong thế giới lượng tử, luật chơi của các điệp viên truyền thống hoàn toàn bị phá sản. Hãy tưởng tượng một bức thư mật được viết bằng các hạt ánh sáng. Chỉ cần một cái nhìn lén lút của mật thám, bức thư sẽ ngay lập tức tự hủy và phát tín hiệu báo động về trung tâm đầu não. Đó không phải là phép thuật, đó là Phân phối khóa lượng tử (QKD) - thứ đang giúp Bắc Kinh xây dựng một hệ thống thông tin liên lạc quốc phòng mà không một siêu máy tính nào của phương Tây có thể giải mã.

Lần theo những “mắt xích tử thần”

Lần theo những “mắt xích tử thần”

Ma túy đá hay các chất ảo giác, muốn đưa vào cơ thể, người nghiện ngập luôn cần đến những “dụng cụ trung gian” - đó là những chiếc nỏ thủy tinh uốn lượn, những chiếc bình khò tinh vi. Lâu nay, dư luận thường chỉ chú ý đến các đường dây mua bán ma túy mà ít ai biết rằng, phía sau dòng chảy đen tối đó là một thị trường ngầm cung cấp “đồ chơi” cho việc sử dụng ma túy vô cùng béo bở. Những kẻ núp bóng sản xuất, cung cấp các vật dụng này đang trở thành nguồn tiếp tay cho làn sóng tội phạm ma túy biến tướng.

UAV Ukraine đã xuyên thủng phòng không của Moscow như thế nào?

UAV Ukraine đã xuyên thủng phòng không của Moscow như thế nào?

Hàng trăm UAV Ukraine tấn công Moscow đã khiến hệ thống phòng không Nga rơi vào tình thế quá tải. Đằng sau đó là một hệ sinh thái UAV tấn công tầm xa đang được Kiev phát triển, với chi phí thấp hơn tên lửa hành trình nhưng đủ sức buộc Moscow phải phân tán, tiêu hao và liên tục điều chỉnh năng lực phòng thủ.

Công nghệ “biến” những ông bố “vô tinh” thực hiện giấc mơ làm cha

Công nghệ “biến” những ông bố “vô tinh” thực hiện giấc mơ làm cha

Đi khám phát hiện không có tinh trùng (vô tinh) người đàn ông bật khóc ngay khi bước ra cửa phòng khám. Anh nghĩ rằng cuộc đời mình không thể có con được nữa. Thất vọng, hoang mang khiến anh sợ làm lỡ duyên của vợ. Trước đây, y học đã nghiên cứu và tìm ra phương pháp nuôi cấy tinh tử thành tinh trùng, mang lại hy vọng có con cho những người đàn ông vô tinh. Nhưng hiện nay, nhờ sự tiến bộ của y học, công nghệ đã “biến” những ông bố “vô tinh” thực hiện được giấc mơ làm cha bằng mổ vi phẫu tinh hoàn tìm tinh trùng.

Đại tá Ngô Thuận Lăng, Trưởng Phòng Cảnh sát kinh tế Công an TP Hồ Chí Minh chia sẻ về vụ án.

Điều gì đẩy người trẻ vào vòng lao lý?

Những cuộc gọi, những buổi tư vấn trong vụ án "hợp đồng kỳ nghỉ" không chỉ khiến hàng nghìn người mất tiền mà còn đẩy nhiều nhân viên telesale ngoài 20 tuổi vướng vào vòng lao lý. Đằng sau những bản án là áp lực kiếm tiền, sự thiếu định hướng và những ranh giới pháp lý, đạo đức bị xóa nhòa, khiến không ít người trẻ trở thành mắt xích trong các đường dây lừa đảo.

Chợ tương tác ảo và hệ lụy khôn lường

Chợ tương tác ảo và hệ lụy khôn lường

Phía sau những tài khoản viral (mức độ nổi tiếng) tạo sóng gây bão trên mạng xã hội, là đội quân đếm like, câu view thời vụ. Ít ai ngờ, chợ like “ảo” và view “ma” này đã tiếp tay cho những chiêu trò lừa đảo tinh vi của tội phạm trên không gian mạng...

Cảm biến lượng tử truy tìm tín hiệu vô tuyến

Cảm biến lượng tử truy tìm tín hiệu vô tuyến

Giữa môi trường tác chiến điện từ ngày càng phức tạp, nơi hàng trăm nguồn phát tín hiệu có thể xuất hiện đồng thời trên chiến trường, quân đội Mỹ đang tìm kiếm những công cụ mới để nâng cao năng lực nhận thức tình huống. Trong nỗ lực đó, các nhà khoa học thuộc Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Lục quân Mỹ (ARL) vừa trình diễn một cảm biến lượng tử thế hệ mới có khả năng xác định hướng của trường điện từ tần số vô tuyến trong không gian ba chiều.

UAV cải tiến có thể tự “săn mồi” trong vùng gây nhiễu

UAV cải tiến có thể tự “săn mồi” trong vùng gây nhiễu

Chiến trường tương lai có thể không còn được quyết định bởi số lượng UAV, mà bởi khả năng chúng tiếp tục chiến đấu khi bị "làm mù" và "cắt đứt liên lạc". Một công bố mới từ Trung Quốc về thuật toán AI HG-STR đang thu hút sự chú ý của giới quân sự khi tuyên bố giúp bầy UAV tự phối hợp truy tìm mục tiêu trong môi trường tác chiến điện tử phức tạp.

Bóng đen sau cánh cửa 37 quốc gia

Bóng đen sau cánh cửa 37 quốc gia

Tháng 2/2026, khi Palo Alto Networks công bố báo cáo về một chiến dịch gián điệp mạng quy mô toàn cầu, Pete Renals, Giám đốc Chương trình An ninh quốc gia của Unit 42, đã dùng một so sánh rất nặng. Ông nói với Recorded Future News rằng đây có thể là vụ xâm phạm hạ tầng chính phủ toàn cầu nghiêm trọng nhất do một nhóm được nhà nước hậu thuẫn thực hiện kể từ SolarWinds. So sánh ấy không ồn ào. Nhưng ai từng theo dõi SolarWinds năm 2020 đều hiểu nó nặng đến mức nào.

EU sẽ gia nhập “mặt trận” chip AI

EU sẽ gia nhập “mặt trận” chip AI

EU dự kiến tham gia sáng kiến chip AI do Mỹ khởi xướng, đánh dấu bước dịch chuyển đáng chú ý trong nỗ lực của phương Tây nhằm kiểm soát chuỗi cung ứng công nghệ chiến lược và kiềm chế tham vọng công nghệ của Trung Quốc.

Gián rít Madagascar - trinh sát toàn năng trong tương lai?

Gián rít Madagascar - trinh sát toàn năng trong tương lai?

Công nghệ điện tử - tự động hóa và trí tuệ nhân tạo phát triển, nhiều sản phẩm viễn tưởng bước ra khỏi phim ảnh để vào đời thực. Tiên phong có gián rít Madagascar “côn trùng người máy” đầu tiên của các nhà khoa học Đức.

Số phận của chiếc MQ1-Predator

Số phận của chiếc MQ1-Predator

Nhiệm vụ chính của máy bay không người lái MQ-1 Predator là ngăn chặn và tiến hành trinh sát vũ trang chống lại mục tiêu quan trọng, dễ bị phá hủy. Khi không thực hiện nhiệm vụ chính, MQ-1 sẽ cung cấp hoạt động trinh sát, giám sát và xác định mục tiêu để hỗ trợ chỉ huy Lực lượng Liên hợp.

Thế giới không thể lơ là trước cuộc chiến chống Ebola

Thế giới không thể lơ là trước cuộc chiến chống Ebola

Một “con bệnh” từ những cánh rừng châu Phi lại trỗi dậy, gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự mong manh của an ninh y tế toàn cầu. Virus Ebola, với tỷ lệ tử vong cao và khả năng gieo rắc nỗi kinh hoàng đang bùng phát trở lại. Một cuộc chiến mới với ngành y tế thế giới lại bắt đầu.

Nhân tố con người trong kỷ nguyên AI quân sự

Nhân tố con người trong kỷ nguyên AI quân sự

Xu hướng đưa trí tuệ nhân tạo (AI) vào lĩnh vực quân sự ngày càng tăng, nhưng cơ chế quản lý vẫn chưa rõ ràng. Dù mang lại nhiều lợi ích cho ngành tình báo và hậu cần, việc quá phóng đại năng lực AI dễ đẩy cao căng thẳng toàn cầu và gây ra những sai sót hệ thống. Trước thực trạng đó, bà Jacquelyn Schneider, Giám đốc Sáng kiến Mô phỏng Chiến tranh và Khủng hoảng tại Viện Hoover (Đại học Stanford), nhận định rằng kiểm soát an toàn từ khâu phát triển và nâng cao tư duy phản biện cho quân nhân là giải pháp cốt lõi.