Lễ Rước người ngày mùng 7 Tết

Cho đến bây giờ, trên đất nước ta, chỉ duy nhất có một nơi là các làng xã vùng đảo Hà Nam, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh còn duy trì được một tục lệ đặc biệt: Lễ Rước người ngày mùng 7 Tết âm lịch. Theo quan niệm cổ xưa ở phương Đông, trong 7 ngày đầu tiên của năm mới, thì ngày mùng 7 ứng với người.

Đây là nơi 17 vị Tiên Công đã quai đê, lấn biển, lập các làng xã trên một vùng đảo phía Nam sông Bạch Đằng (vì vậy gọi là Hà Nam), sau chiến thắng Bạch Đằng, cách đây hơn 700 năm. Ca dao cổ địa phương có câu: “Đảo Hà Nam là bãi chiến trường”.

Ở làng Trung Bản, xã Liên Hòa trong vùng, theo truyền thuyết, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đã từng đóng bản doanh trung tâm tại đây (nên đời sau gọi là Trung Bản). Trong đền thờ tại bản xã, hiện còn bức tượng Đại vương ngồi, tóc xoã buông xuống ngang lưng, tay phải cầm trâm cài tóc. Không ở đâu trên đất nước ta có bức tượng Ngài đặc sắc như vậy.

Dân gian kể rằng: Ngài đã từng xõa tóc gội đầu tại đây, sau trận kịch chiến trên sông Bạch Đằng ngày 9 tháng 4 năm 1288, mang lại nền thái bình muôn thuở cho non sông Đại Việt.

Võng rước cụ Thượng ra đình Tứ xã (Đình Tổng) để làm Lễ các Tiên Công.
Võng rước cụ Thượng ra đình Tứ xã (Đình Tổng) để làm Lễ các Tiên Công.

Các cụ trưởng lão trong vùng cho biết, Lễ Rước người được duy trì đến nay là hơn 500 năm. Người được rước năm nào là năm ấy cụ thượng thọ, tròn 80 tuổi,  được gọi một tên chung là cụ Thượng, không phân biệt cụ ông hay cụ bà. Theo quan niệm xưa, khi người đàn bà mãn kinh là đã hoàn thành thiên chức của giới mình, từ 9 vía chỉ còn 7 vía như đàn ông, nên được coi như đàn ông.

Từ chiều 28 Tết, nhà nào có cụ Thượng đều đã bày xong bàn thờ lớn, chiếm hầu hết gian trung tâm, trên đó có bài vị thờ đến cụ 5 đời. Chủ lễ là con trai cả, hoặc con dâu trưởng hay con gái cả, tùy hoàn cảnh từng gia đình. Các con thứ và các cháu nội, ngoại lo dựng rạp, kê bàn ghế tiếp khách.

Ngay đầu ngõ, cổng chào được dựng lên tết bằng lá dừa, có treo đèn lồng. Trong sân, đèn điện sáng trưng, tiếng nhạc phát qua loa, tiếng các cháu lần lượt hát mừng cụ. Cỗ bày trên bàn hoặc trên chiếu hoa. Cụ Thượng được tắm nước lá thơm, mặc quần áo lụa màu, trông rất quí phái.

Trước đây, trong ngày đại lễ này, các cụ tuổi thất thập (70 tuổi) thì mặc đồng phục màu xanh, cụ bát thập (80 tuổi) đồng phục màu đỏ, cụ cửu thập (90 tuổi) thì đồng phục màu vàng. Bây giờ thì điều qui ước ấy không còn chặt chẽ nữa, nhưng nói chung, các con cháu vẫn gom tiền lại sắm cho cụ bộ trang phục đúng lệ.

Cụ Thượng ngồi trên ghế tựa có đệm bông, nếu tiết trời lạnh thì khoác thêm chiếc áo choàng rộng, khi cần, chiếc áo choàng ấy có thể làm chăn đắp, chân xỏ trong tất, giày, đặt trên đệm bông. Suốt đêm mùng 6, rạng mùng 7, cụ ngồi trong trạng thái ung dung trang trọng đó để con cháu dâu rể xa gần về chúc thọ, tặng quà mừng. Khi mệt, cụ có thể ngủ thiếp đi trên ghế, trong chiếc áo choàng, con cháu vẫn đứng bên cạnh trực.

Đêm mùng 6, tại ngôi đình chung của các xã, gọi là đình Tổng (Tổng Hà Nam - đơn vị hành chính cũ), thờ 17 vị Tiên Công, là một đêm hội kéo dài tới sáng. Mỗi năm, Tổng cử một cụ Trưởng Lễ, tuổi từ 60 đến 70, có tín nhiệm về tài đức, có con cháu đỗ đạt hoặc trưởng thành để điều hành buổi lễ vào sáng ngày mùng 7 Tết.

Cụ Trưởng Lễ thường mời 2 vị khách, một người có tiếng ở nơi xa đến dự lễ, một người là cư dân trong vùng, có chức tước hoặc danh vọng cao, được mọi người nể trọng, cùng với mình thắp một tuần hương danh dự trước bàn thờ các nhà khai sáng vùng đảo này trong tiếng trống đình trang nghiêm vang dội.

Sau đó, cụ Trưởng Lễ tuyên đọc công trạng của các thế hệ cha ông đã đổ mồ hôi và xương máu tạo lập và bảo vệ vùng đất này. Rồi lần lượt từng cụ Thượng một, do cụ Trưởng Lễ xướng danh, trân trọng bước vào bái đình làm lễ các vị Tiên Công. Con cháu túc trực và lễ theo cụ ở phía sau. Rồi sau đó, mọi người dự lễ mới lần lượt thắp hương, nghe đọc thơ, xem ca hát hay diễn kịch.

Trong lúc các gia đình đang rước cụ Thượng thì ở Đình Tứ xã (Đình Tổng) lễ tế các Tiên Công được bắt đầu.
Trong lúc các gia đình đang rước cụ Thượng thì ở Đình Tứ xã (Đình Tổng) lễ tế các Tiên Công được bắt đầu.

Tưng bừng nhất là sáng mùng 7 Tết, từ 7 đến 9 giờ, các con cháu rước cụ Thượng ra đình. Cụ ngồi kiệu hay nằm võng, có lọng che, lọng không nhất thiết phải một màu nào, xanh đỏ hay vàng đều được. Dọc đường, nếu có nhà của con cháu, thì nhà nào cũng phải dựng một trạm đón tiếp ở trước cửa, trong đó có bàn thờ nhỏ, giường gấp, hoặc ghế tựa bọc vải điều để cụ Thượng ghé thăm, thắp hương và ngồi nghỉ, có trà thuốc, trầu cau mời khách đi cùng cụ.

Quang cảnh náo nhiệt nhất là lúc kiệu hay võng cụ Thượng ra đường chính. Đi đầu là 8 chàng trai, tượng trưng cho bát tiết, mặt son phấn như lên sân khấu, đầu quấn khăn rìu, áo quần nẹp đỏ, lưng thắt đai điều, vừa khuệnh khoạng bước những bước cách điệu rất nghệ thuật, vừa múa gậy dán giấy từng khúc xanh đỏ để dẹp đường, đuổi ma tà. Sau đó là đội kèn rước (có nhà dùng nhạc băng phát qua loa), rồi đến 4 cô gái đẹp của gia tộc, tượng trưng cho tứ thời, mang lễ vật, đều là sản phẩm nông nghiệp, thể hiện sự phồn thực của đời sống thôn dã.

Rồi đến một biểu tượng chúc thọ. Biểu tượng này mỗi nhà làm một khác, tùy ý thích và cũng tùy trình độ thẩm mĩ của chủ lễ, nhưng thường thấy là một bức tranh vẽ một cụ già phúc hậu, mặt hồng hào rạng rỡ, tóc trắng như cước, vây quanh là một đàn cháu nhỏ, trai có, gái có, đứa nào cũng mũm mĩm, tươi cười...

Sau đến kiệu hay võng của cụ Thượng, do các cháu là trai tân hay gái tân khiêng. Hàng danh dự là các cụ thất tuần, mặc quần áo xanh đi tháp tùng. Tiếp đến là một hoa hậu của chi họ hay dòng họ đi sau cụ Thượng, trang phục đẹp tự chọn, đầu đội một mâm xôi trắng, trên có cái đầu lợn luộc, cỡ lợn từ 80 cân trở lên, mõm lợn ngậm một bông hoa hồng.

Rồi đến hai hàng con cháu, người cầm hoa, người mang hộp trầu cau, thuốc lá bánh kẹo... gặp ai cũng vui vẻ mời chào. Có năm, đình Tổng đón 10 đến 15 cụ Thượng, đường các làng xã chật ních người, trẻ con trèo cả lên các mái nhà ở hai bên đường để xem rước.  Ai có việc gì hoặc từ  đâu đến, cần  vào  trong xóm  có cụ Thượng phải tìm đường vòng khác mà đi.

Vài năm lại đây, cảnh rước cụ Thượng ra đình Tổng và thể thức tiến hành nghi lễ có đôi chỗ khác so với trước, so với cả những ghi chép điền dã của tôi từ những năm xa xưa, khi tôi đã có nhiều tháng ăn ở tại vùng đất cổ này, nhưng đại để, nét chung nhất như trên thì không thay đổi mấy. Âu cũng là điều bình thường trong sự phát triển của một phong tục lễ hội đẹp.

Sau khi cụ Thượng làm lễ xong, trưởng nam hay trưởng nữ của cụ san lại một phần lễ vật cúng tế cho nhà đình, rồi rước cụ Thượng về và cho phép con cháu tham gia vào các hoạt động vui xuân của dân làng như kéo co, chơi đu, đánh vật, chọi gà, đấu bóng chuyền...

Tôi đã nhiều lần về dự lễ và may mắn có một lần được mời cùng cụ Trưởng Lễ thắp tuần hương đầu tiên vào khoảng 6 giờ tối ngày mùng 6, mở đầu cho đêm hội làng. Tôi thấy lòng mình dâng lên niềm tự hào về nền văn hóa dân tộc, về sức mạnh của giống nòi và hiểu vì sao đại thắng mùa xuân năm 1288 lại diễn ra ở đây, để từ đó, sông Bạch Đằng trở thành con sông thiêng, chảy trong tâm hồn mọi người dân Việt Nam, dù ở trong nước hay ở nước ngoài.

Trần Nhuận Minh

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.