Lại được ra trận
Chiều hôm ấy Hồng Thanh Quang vào. Sau một ngày đôn đáo không liên hệ được xe quân đội để đi nhờ, Hồng Thanh Quang và tôi mua vé xe khách từ TP HCM đi Phnôm Pênh. Xe qua cửa khẩu Mộc Bài, đến Xoài Riêng, rồi qua một con phà rộng, tôi quên không kịp hỏi tên gì. Từ chợ Olympic về căn cứ của Mặt trận 979 quân Tình nguyện Việt
- Sang đây chỉ mười ngày thì ít quá!
Lệnh của cơ quan ở Hà Nội yêu cầu khoảng chừng đó phải về. Hai đứa chúng tôi đều là "tân binh" về tòa soạn nên phải chấp hành răm rắp.
Sáng 14/5/1989, chúng tôi làm việc với Trung tá Trần Bá Điềm, Trưởng Phòng tuyên huấn Mặt trận 979. Anh Điềm gợi ý nên chọn hướng Pailin của Bátđomboong để thâm nhập, vì đây là địa bàn trọng điểm của chiến trường Campuchia hiện nay. Ý đồ của tàn quân Pônpốt là sau đợt rút quân Tình nguyện Việt Nam sắp tới, từ đây chúng sẽ đánh chiếm lại toàn bộ Bátđomboong, để lập "vùng giải phóng". Ở Pailin có một mỏ đá quý, hiện đang có nhiều thành phần khai thác, nên tình hình càng lộn xộn. Từ tháng 12/1988, tức là sau đợt rút quân Tình nguyện Việt Nam lần thứ bảy, địch tập trung hoạt động chủ yếu ở hướng Pailin và Tà Sanh. Đây là những vùng rừng núi hiểm trở, có con đường chiến lược 10B chạy từ Bátđomboong lên cửa khẩu 301.
7 giờ kém 20 phút sáng 17/5/1989, Văn phòng Mặt trận 979 cho xe chở Hồng Thanh Quang và tôi ra sân bay Pochentong. Chiếc trực thăng mang số hiệu 7803, nhằm thẳng hướng Tây
Trực thăng đáp xuống một khoảnh đất cạnh cơ quan Sư đoàn 330. Vùng này thuộc xã Phlaumia của huyện Pailin. Động cơ máy bay vẫn nổ ầm ầm, cánh quạt vẫn quay tít. Một tốp bộ đội đã chờ sẵn và khi những người cuối cùng trong đoàn chúng tôi vừa bước xuống là họ vội vàng chuyển những chiếc cáng thương binh lên máy bay. Trên cáng, những chiến sĩ trông còn trẻ măng, người băng quấn đầu, người băng quấn chân, có người không băng bó gì, nhưng gầy gò, xanh mét, bất động. Chỉ một loáng, trực thăng đã rời bãi cỏ, tăng độ cao quay về hướng Phnôm Pênh. Mọi việc diễn ra như một lập trình cố định, chẳng thấy ai nói năng, hỏi han gì. Chợt nhớ một câu thơ viết về bộ đội tình nguyện Việt
Sư trưởng Nguyễn Văn Thanh, tên thường gọi là Ba Chơi, trực tiếp gọi điện xuống Phòng Chính trị, bảo cho người lên đón hai nhà báo quân đội từ Hà Nội sang. Đợi một lúc thì có một chiến sĩ xuống đón, bảo gần đây thôi, nhưng đi bộ luồn rừng gần hai cây số mới đến nơi. Cơ quan Chính trị đóng gần bờ suối, giữa một vườn cam và đu đủ. Nghe nói trước kia đây là đồn điền của một chúa đất, bỏ của chạy lấy người trong chiến tranh. Con suối Xăngke qua đoạn này rộng chừng ba chục mét, hơi sâu nhưng nước đỏ quạch, phần vì mấy trận mưa đầu mùa, phần vì nạn đào đá quý ở vùng Ôđa (thuộc Pailin). Cả cơ quan đoàn bộ và mấy đơn vị trực thuộc đều dùng nước con suối này. Nơi có điều kiện thì dùng phèn khử bùn, còn thì đa số là cứ múc lên, để lắng mà ăn uống. Quen rồi, có nước thế này là tốt chán.
Mặt trận phía này thương vong khá lớn. Quân tình nguyện sắp rút hết nên phải đưa hài cốt anh em về theo. Có những ngôi mộ chưa kịp phân huỷ, phải dùng dao róc thịt để lấy xương cốt. Bốn vách nhà cơ quan Chính trị trống hoác vì đợt vừa rồi thiếu ván đóng quan tài, Ban chính sách phải dỡ cả ván thưng nhà ở…
Đái huyết cầu tố và…
Ấn tượng về những chiếc cáng thương lặng lẽ ở bãi đáp trực thăng và ngôi nhà cơ quan trống hoác vì ván bị dỡ làm quan tài, khiến chúng tôi chọn đơn vị quân y là điểm thâm nhập đầu tiên. Tiểu đoàn quân y cũng là trạm xá của sư đoàn. Đây là trạm xá tuyến hai. Tuyến một là các trạm xá trung đoàn, đôi khi phải phẫu thuật và cưa cắt tứ chi như một bệnh viện tiền phương.
Đội ngũ quân y tuyến hai có mười một bác sĩ, thường xuyên tăng cường cho tuyến một khoảng năm, sáu người. Hai mươi sáu y sĩ và y tá cũng thường xuyên đi tuyến trước gần một nửa. Ngoài ra còn có hơn chục người làm hộ lý, cấp dưỡng, quản lý... Có đợt anh em thương binh, bệnh binh phải xắn tay áo giúp đỡ trạm xá vì toàn bộ y tá, y sĩ, bác sỹ… đều ốm, chủ yếu là sốt rét. Anh em ở đây sợ nhất là sốt đái huyết cầu tố. Đó là một căn bệnh sốt rét đặc biệt, thường gặp ở chiến trường Tây Nguyên, Lào và Campuchia. Ở các bệnh viện tuyến sau ít khi gặp loại sốt rét này nên rất khó chẩn đoán và điều trị. Anh em bên này kể rằng, nhiều người về phép cứ phải dặn trước vợ con hễ thấy sốt đái ra màu huyết thẫm thì phải khẳng định với thầy thuốc là bị sốt đái huyết cầu tố, chớ có chẩn đoán lung tung. Trước đây bệnh này có khi chiếm tới một nửa số ca sốt rét.
Rừng Pailin, ngoài mìn sát thương và vi trùng sốt rét còn có một mối hiểm nguy khiến lính ta rất ngán là rắn hổ bướm. Đó là một loại rắn độc, hình dẹt ba cạnh, trên lưng có hoa hình con bướm. Loại này chỉ nhỏ như rắn lục nhưng độc hơn nhiều. Chúng nằm lẫn trong lá rừng, thường đớp vào chân. Cũng có khi vắt vẻo trên cành cây, người đi ngang thì đớp vào mặt và cổ. Mới đây, có một đồng chí đại uý ở Ban tác chiến bị rắn hổ bướm đớp, nhưng không cứu chữa kịp thời nên đã tử vong. Hiện tại, ở trạm xá cũng có một chiến sĩ bị rắn hổ bướm đớp vào cổ chân, phải mổ rộng vết cắn để xử lý. Cơn nguy kịch đã qua nhưng cái chân vẫn cứng đơ, chưa co duỗi được.
Xuống trạm xá, ngồi đâu cũng nghe anh em kể chuyện sốt rét, bị phục kích, bị mìn phạt chân… Chuyện nào cũng thật thương tâm. Tháng trước, Thiếu tá Châu Văn Nghĩa - Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9 - đi kiểm tra địa hình thì gặp địch phục kích. Các anh chiến đấu quyết liệt. Anh Nghĩa bị thương nặng, ra lệnh cho anh em rút còn anh thì ở lại chặn địch. Mọi người đề nghị cõng anh theo, Nghĩa cáu lên, bảo rút ngay. Có người rơi nước mắt, Nghĩa động viên, và dặn: Chỉ nhờ anh em đồng đội giúp đỡ dựng cho vợ con một ngôi nhà. Bao nhiêu năm nay vợ con anh ở Cửu Long vẫn chưa có ngôi nhà riêng để ở…
Rồi chuyện anh em bị thương lạc đơn vị, vết thương nhẹ thôi nhưng giòi khoét thành nặng, có khi đơn vị tìm được thì đã vô phương cứu chữa. Có anh không bị thương, nhưng bị sốt rét quật ngã nằm há miệng mấy ngày giữa rừng. Ruồi nhặng bu quanh miệng đẻ trứng, sinh giòi. Lúc tìm được không ai để ý, về trạm xá thỉnh thoảng lại thấy giòi chui trong miệng ra…
Hỏi chuyện hai thương binh trẻ nằm chung một tấm sạp. Hạ sĩ Võ Hùng Sơn là lính Trung đoàn 3, quê ở huyện Chợ Mới - Tiền Giang. Sơn mồ côi bố, chỉ còn mẹ già. Ngày 28/4/1989, trong lúc đang truy kích địch thì Sơn bị một mảnh đạn cối găm vào chân. Vết thương chưa lành hẳn, nhưng cu cậu có vẻ nhanh nhẹn hoạt bát lắm. Lúc nào cũng nói đùa: "Thế là em đã thành khỉ què". Chẳng là cậu ta sinh năm 1968, cầm tinh con khỉ.
Trung sĩ Phan Minh Châu nằm cạnh Sơn, là người huyện Mỏ Cày - Bến Tre, hơn Sơn những sáu tuổi. Trước khi đi bộ đội, Châu đã là công an viên của xã. Năm 1985, anh trai Châu bị thương ở chiến trường Campuchia về phục viên, thì Châu được lệnh nhập ngũ. Tháng trước, trong một trận chiến đấu, tiểu đội của Châu đào hào lấn dũi vào sát trận địa của địch. Nghe tiếng xẻng xúc đất, địch tập trung hoả lực bắn ra, anh em mình đánh trả quyết liệt. Châu mang theo 8 quả B45 đã bắn hết 6 quả. Một quả cối của địch nổ ngay sau lưng, Châu bị mảnh cối găm vào chân và lưng…
Châu cho biết: Anh vừa nhận được tin cậu em trai ruột cũng đang chiến đấu ở Tà Sanh, nhưng không rõ ở đơn vị nào?--PageBreak--
Lên Vườn Nhãn
Con đường đất rải đá dăm nham nhở ổ gà, ổ voi chạy qua con suối Xăngke trước cửa Phòng Chính trị Sư đoàn 330 có tên theo tiếng Khơme nghĩa là "Con đường vàng". Địa bàn đơn vị đứng chân là xã Phlâumia, tức Đường Vàng. Về ý nghĩa của cái tên này thì có nhiều cách giải thích khác nhau, trong đó có cách giải thích rằng: gọi như vậy vì đây là con đường dẫn vào khu mỏ đá quý Ôđa của xứ sở kim cương Pailin.
Trung đoàn 1 vừa xong một đợt truy quét địch, trở về Vườn Nhãn đêm qua. Sáng 19-5-1989, chúng tôi lên Vườn Nhãn bằng xe tải chở hàng của phòng hậu cần, có cả một số chiến sĩ vừa ra viện và ở mấy đơn vị trực thuộc đi cùng. Mưa xối xả quất xuống chiếc xe tải mui trần. Chúng tôi đội áo mưa ngồi trên thùng xe cùng các chiến sĩ. Anh em chen chúc ngồi bên nhau, cậu nào cũng gầy ốm, xanh xao. Một vài người còn quấn băng trên đầu, trên cánh tay, bắp chân… Mỗi khi xe xóc, các anh nhăn nhó trông thật tội nghiệp.
Đoạn đường từ sư đoàn bộ lên Vườn Nhãn rải nhựa, nhưng nham nhở, loang lổ, bong tróc từng mảng… rất khó đi. Có hai lần xe phải dừng lại khá lâu vì cầu đã bị tàn quân Pôn Pốt đặt mìn phá hoại tháng trước để cản bước chân truy quét của bộ đội Tình nguyện. Thương binh vẫn nằm trên thùng xe, ai lành lặn thì phải xuống lội qua ngầm tạm. Mọi người cứ để nguyên quần dài lội ào ào. Riêng hai nhà báo và Phó Chủ nhiệm Chính trị Lê Minh Trọng thì cẩn thận quần dài quấn cổ, vì không mang theo quần áo dự phòng. Vùng này tàn quân Pôn Pốt hoạt động rất ráo riết. Gần đến Vườn Nhãn thì chiếc xe đi trước chúng tôi đụng mìn, nằm vật bên lề đường. Rất may, lái xe chỉ bị thương nhẹ và xe chỉ chở gạo, không có bộ đội. Thật hú vía!
Vườn Nhãn là nơi hạ trại của Trung đoàn 1. Đó là một vùng vườn tược khá rộng và bằng phẳng, có lẽ trước kia là trang ấp của một Lục Thum (ông lớn) nào đó. Trong vườn chủ yếu là xoài và nhãn, có cả một cánh đồng mía bạt ngàn dễ đến vài năm không ai chặt nên mía trổ cờ phất phơ như lau sậy um tùm. Đang mùa xoài chín nhưng không có ai thu hoạch. Đêm đêm xoài rơi lộp bộp đầy vườn, nghe thật não nề hiu quạnh…
Đất nước xứ người mênh mông xa lạ thế, vậy mà cũng có những cuộc tái ngộ thật bất ngờ thú vị. Hôm Hồng Thanh Quang đi tàu Thống nhất từ Hà Nội vào TP HCM, ngồi cùng ghế với một anh lính, chuyện trò trên trời dưới bể với nhau suốt hơn hai ngày đêm. Rồi chia tay nhau ở ga Sài Gòn, đường ai nấy đi. Nào ngờ hôm nay lên Vườn Nhãn, lại gặp anh ta ở đây. Thì ra Hùng - tên người lính ấy - là bác sĩ, tốt nghiệp Đại học Quân y ở Hà Đông năm 1984, sang đây từ năm 1985, vừa được đi phép để cưới vợ… Bây giờ không biết bác sĩ Hùng đang ở đâu?
Tôi cũng có một cuộc gặp bất ngờ và thú vị ỏ Vườn Nhãn: Hôm đi xe khách từ TP HCM sang Campuchia, tôi ngồi cạnh một chiến sĩ quân Tình nguyện cũng vừa đi phép về quê Nghệ - Tĩnh. Chia tay nhau ở Phnôm Pênh, nào ngờ hôm nay lại "chạm" nhau ở đây. Đến lúc này tôi mới biết anh tên là Dưỡng, ở tiểu đoàn pháo binh tăng cường…
Nhưng "người quen" ấn tượng nhất ở Vườn Nhãn phải kể đến anh Bảy Đùm. Hôm nọ ở cơ quan sư đoàn bộ, tôi đã tình cờ gặp anh, lúc anh đang "hăng hái" tranh luận (hay báo cáo gì đó) với mấy cán bộ tham mưu sư đoàn:
"Địch phía này không hình thành tiền duyên, không phòng ngự theo thế liên hoàn mà bố trí từng chốt riêng rẽ. Vậy thì phải đánh cách khác chứ? Bây giờ vẽ trên sơ đồ thuyết minh thì dễ, chứ trên thực địa thì biết bao xương máu anh em đã đổ? Bây giờ các anh vặn vẹo chúng tôi vì sao đánh chỗ này, chỗ kia? Tại sao từ đầu không chỉ cho chúng tôi nên đánh chỗ nào, đánh như thế nào? Nói thật nhé: Khu vực này tụi đi khảo sát về vẽ loạn xị ngầu, yêu cầu điều hai tiểu đoàn. Nhưng tôi cam đoan chỉ cần một, đòm vài quả pháo là địch chạy như vịt…".
Cái khẩu khí của một viên đại uý trước mặt cấp trên khiến tôi chú ý. Người tầm thước, da đen sạm, vết thẹo như một con đỉa vắt ngang lưỡng quyền má phải, trông thật dữ dằn. Mỗi khi "con đỉa" ấy đỏ tấy lên và giật giật liên hồi là anh đang phê rượu, hoặc là đang rất cáu, nhưng toàn nói đúng, chẳng mấy khi sai. Thoạt đầu tôi cứ tưởng Bảy Đùm là biệt hiệu, gặp nhau ở Vườn Nhãn chuyện trò, mới hay đó là tên cúng cơm của anh. Quê anh ở huyện Châu Thành, Tiền Giang. Nhà nghèo nên học hành lẹt đẹt. Hồi Mỹ đổ quân vào miền
Sáng 20/5/1989, chúng tôi xuống Tiểu đoàn 3, tiểu đoàn vừa trở về sau một đợt truy kích địch, đang củng cố đơn vị. Lúc trở về đã quá trưa, trời nắng chang chang. Gặp một chiếc xe ngựa cùng chiều, xin đi nhờ, "nhà xe" gật đầu luôn. Đường nhựa nham nhở, lồi lõm vậy mà chú ngựa tinh khôn tránh được hết nên xe không đến nỗi xóc. Mỗi khi có tiếng còi ô tô hoặc xe máy phía sau là chú ngựa cũng biết áp sát lề đường bên phải. Những "cử chỉ" ấy của chú ngựa cùng với tiếng nhạc leng keng treo trên cổ, khiến tôi thấy vui vui, ngồ ngộ… Đặc biệt, chẳng ai "bảo" với nó, thế mà đến gần cổng doanh trại trung đoàn, nó tự động dừng lại cho chúng tôi xuống.
Trước cổng trung đoàn cũng có hàng quán lúp xúp, nhưng chủ quán toàn người địa phương. Chúng tôi vào một quán có cô chủ trông bắt mắt nhất. Cô bé trắng trẻo, tóc đen, mắt sáng, khuôn mặt tươi tắn, biết nói tiếng Việt nên rất chịu tán với bộ đội Tình nguyện. Em tên Út, chắc là xạo nhưng bảo thế thì các anh cứ gọi thế, năm nay hai mươi tuổi và chưa thương ai. Hồng Thanh Quang khen em đẹp, nhưng em bảo "không đẹp bằng con gái Việt
Buổi chiều, lại lên xe mui trần trở về sư đoàn bộ. Một cơn mưa ập xuống, cả xe ướt lóp ngóp. Đã thế xe lại bị sa lầy ở ngầm Ôkrôi, loay hoay mãi, cuối cùng thì anh tài xế cũng lùi lùi, tiến tiến ra khỏi vũng lầy. Lại lên xe đi tiếp. Trời vẫn mưa nhưng không ào ạt xối xả như trước mà chỉ lây rây rả rích. Anh Nhất, cán bộ Ban Tổ chức của Phòng Chính trị sư đoàn có tấm nilon, bảo tôi chui vào che chung. Lắc lư trên đoạn đường còn lại, anh Nhất kể chuyện khát nước của lính Tình nguyện như để tôi bớt "khó chịu" vì ướt mưa và xe xóc.
Tôi đã được nghe, được đọc nhiều chuyện khát nước của bộ đội ta ở trong rừng, trên đảo, nhưng chuyện khát và nhất là kinh nghiệm "chống khát" của anh Nhất thì thật độc đáo: Trước hết phải nhịn đái. Anh nào hành quân mà cứ vô tư "tè" thoải mái dọc đường thì chắc chắn sẽ bị khát trước tiên và khát nhiều nhất. Cúc cổ áo phải cài thật kín, càng nắng nóng càng phải cài chặt. Tất nhiên người sẽ vã mồ hôi, nhưng chỉ một lúc là thấy mát hơn hẳn mấy anh phong phanh cổ áo cho thoáng. Da thịt thấy mát mẻ, lấp dấp mồ hôi thì sẽ đỡ khát hơn. Nên nhớ là phải kết hợp thở bằng mũi. Há hốc mồm mà thở thì mau khô họng, nứt môi, háo nước. Ban đêm, tốt nhất là… trần như nhộng. Trải nilon xuống đất, căng màn chống muỗi mà ngủ dưới sao trời. Khuya, sương xuống và hơi ẩm trong đất bốc lên đọng thành nước trên tấm ni-lon, tuy không đủ để làm một ngụm nhưng lăn qua, lăn lại trên đó thấy đã vô cùng, đỡ khát hẳn!
Sôm lia bo Pailin
Sáng 25/5/1989, Phó Chủ nhiệm Chính trị Lê Minh Trọng nói: Đêm qua đài BBC đưa tin về chiến sự ở Pailin, nhận định ta sắp mở chiến dịch lớn ở đây vì báo Quân đội nhân dân đã cử phóng viên sang "ém" sẵn. Thì ra sau hôm làm việc ở Phòng Tuyên huấn và Phòng Tác chiến của Mặt trận 979, Hồng Thanh Quang đã nhanh tay viết bài gửi ra Hà Nội trước khi bay lên Pailin. Bài được đăng ngay trang nhất báo Quân đội nhân dân nên "hành tung" của chúng tôi bị lộ. Hồng Thanh Quang nhắc tôi chuẩn bị sáng mai phải quay về Bộ Tư lệnh Mặt trận 979 để về nước. Giọng Quang nửa thật nửa đùa: "Bây giờ, mình sang mặt trận trầy trật gian khổ thế này, nhưng nay mai yên hàn rồi, sang Campuchia là thuộc diện được đi nước ngoài đấy, chưa chắc đã đến lượt bọn mình". Ý này, về sau Hồng Thanh Quang nói trong bài thơ "Cơn khát ở Pailin", tôi nhớ có câu: "Trời xa ngái như em và mẹ/ Những ngôi sao không rụng xuống vai mình…". Còn tôi lúc ấy thì hưởng ứng bằng cách rủ Quang rằng, còn một ngày cuối cùng, ta tranh thủ đi tham quan Pailin, kẻo sau này lại tiếc…
Anh Ký ở Phòng Địch vận dẫn chúng tôi đi xem chợ Phlaumia. Xã còn nghèo nhưng chợ thì sầm uất đông vui, đúng là chợ "đường vàng". Con đường 10B qua đây biến thành một đoạn phố hai bên la liệt hàng quán. Đủ thứ hàng thực phẩm, mỹ phẩm, dệt may, điện tử… Dân buôn bán ở đây chủ yếu là Hoa kiều và Thái Lan.
Chúng tôi sáp vào một cửa hàng có ba cô gái sàn sàn tuổi nhau, có vẻ như dân gốc Hoa, khá xinh, nhưng chỉ nói được bập bẹ tiếng Việt. Trò chuyện với các cô bằng… điệu bộ cũng hay hay, lại còn chụp ảnh kỷ niệm với cả ba cô nữa, nhưng quên không hỏi tên gì. Cửa hàng bán phở Nam Vang, có bia chai, rượu trắng, nước ngọt, nhạc cátxét chạy điện ắcqui và đá lạnh ủ trong trấu, không rõ lấy ở đâu về. Bà chủ là một người Khơme chính gốc, nhưng nói tiếng Việt khá sõi. Bà bảo: Mai mốt bộ đội Việt
Trụ sở Ủy ban xã cũng nằm sát mặt đường, ngay cuối chợ. Không có kế hoạch làm việc, nhưng mấy anh em vẫn ghé vào thăm chơi. Cán bộ xã thì cởi trần ngồi bên bàn. Dân quân, kẻ nằm người ngồi, súng ống dựng đầy nhà. Không biết anh Ký liên hệ cách nào mà đến bữa, ghé vào một gia đình cơ sở đã thấy dọn sẵn cơm trưa. Má Phonla chủ nhà không nói được tiếng Việt. Cô Chăn Thu, con gái của má cũng thế, nhưng anh con rể tương lai thì nói tiếng Việt khá sõi. Nghe nói anh này trước cũng làm du kích, nhưng nay thì đi đào đá quý ở Ôđa. Cô Chăn Thu đang học y tá trên thị trấn, mấy hôm nay cô được nghỉ học nên anh cưỡi chiếc Honda đỏ chót về thăm. Cũng may có anh ngồi tiếp cơm khách. Bữa cơm khá tinh tươm sạch sẽ, rượu trắng thốt nốt rất ngon, nhưng món bòhoóc thì quả là rất khó xơi. Vậy mà chúng tôi vẫn khen lấy khen để, rất nhiệt tình…
Buổi chiều trở về cơ quan sư đoàn bộ vẫn trên chiếc xe tải ban sáng. Lúc đi ngang quán của mấy cô gái chụp ảnh chung ở chợ Phlaumia, chúng tôi vẫy tay và kêu: Xôm-lia-bo! Xôm-lia-bo Pailin!…
Cả ba cô cùng nhào hẳn ra đường, vẫy rối rít:
- Xóc-xờ-bai! Xôm-lia-bo!…
Xe đã qua khỏi chợ, tôi vẫn cố hét thật to:
- Bát, đắc-khắc-vân-vinh!…
Không rõ các cô có biết đây là mùa hè cuối cùng có mặt những người lính Tình nguyện Việt