Sau Tết Mậu Thân (1968), Mỹ - ngụy tăng cường càn quét, đánh phá vùng giải phóng của tỉnh Quảng Đà và vùng ven thị xã Hội An. Hằng ngày, máy bay Mỹ thả bom dữ dội, xóm làng xơ xác. Ban đêm đại bác từ các căn cứ Núi Chúa (Quế Sơn), Lai Nghị (Cẩm Hà) và trên tàu chiến Hạm đội bảy của Mỹ ở ngoài biển bắn phá ác liệt. Trực thăng Mỹ đổ quân càn quét, lùng sục, lấn sâu vào vùng giải phóng nhằm thực hiện chiến dịch "Tìm diệt" quân giải phóng.
Chiến trường Quảng Đà nói chung và Hội An nói riêng vô cùng ác liệt. Bộ đội chính quy phần lớn rút về căn cứ để "chỉnh quân" hoặc phân tán nhỏ lẻ hoạt động để bảo toàn lực lượng. Cán bộ, du kích và bộ đội địa phương bám trụ trong các xóm làng không có dân, thường gọi là "vùng trắng", quần lộn với địch để hoạt động, vô cùng khó khăn, gian khổ.
Khoảng giữa tháng 5 năm 1968, lúc bấy giờ tôi phụ trách trạm giao liên của Văn phòng Thị ủy thị xã Hội An, Quảng Đà. Gọi là "trạm" nhưng chỉ có hai anh em, tôi 15 tuổi và em Nguyễn Sưa - 13 tuổi là liên lạc của xã Cẩm Thanh mới rút lên, ở trong nhà anh chị Tám Quang tại thôn 5, xã Xuyên Thọ (nay là Duy Nghĩa), huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Đà.
Vào một buổi trưa, tôi không nhớ ngày, đang ở trạm giao liên thì có một thanh niên dong dỏng cao, nước da trắng trẻo, đẹp trai bước vào hỏi thăm đây có phải là trạm giao liên của Thị ủy Hội An không? Tôi đang lưỡng lự tìm câu trả lời thì anh chủ động tự giới thiệu là Chu Cẩm Phong - cán bộ Ban Tuyên huấn Khu V về công tác và cần gặp đồng chí Bí thư Thị ủy.
Trời đã quá trưa, tôi đoán chắc anh đói bụng nên mời anh ăn tạm bữa trưa với tôi. Anh thật thà không từ chối. Tôi chia cho anh mấy củ khoai lang luộc. Trông anh ăn có vẻ ngon lành, tôi đưa anh một gáo nước mưa lấy từ trong chum nước đầu nhà, anh uống ừng ực rất thoải mái. Anh bảo, thế là em đã cho anh qua một cơn đói khát và hỏi thêm: "Buổi trưa em ăn chỉ có vậy thôi à?". Tôi thành thật trả lời anh, khẩu phần trưa nay của em chỉ có vậy, có hôm bọn Mỹ đánh bom hoặc càn quét thì chỉ có nhịn đói. Anh cười rất tươi.
Mới tháng 5 mà trời nắng nóng gay gắt, tôi đưa anh Chu Cẩm Phong vừa đi, vừa chạy băng qua một trảng cát rộng - phần vì cát dưới chân nóng rát, phần sợ máy bay trực thăng Mỹ lùng sục bất chợt, đến gặp đồng chí Ngô Xuân Hạ - Bí thư Thị ủy làm việc ở nhà ông bà Ba Tôn - đó là Văn phòng Thị ủy Hội An. Đồng chí Bí thư rất mừng được gặp lại Chu Cẩm Phong, hơn nữa đồng chí Hạ cũng rất thân quen với gia đình của anh. Hai người làm việc với nhau, tôi trở lại trạm giao liên. Vừa qua khỏi trảng cát trống trơ nấp vào bụi cây thì hai chiếc máy bay trực thăng HU-1A Mỹ trờ đến. Chúng quần đảo một lúc không phát hiện được gì, tiếp tục bay đi. Thật may vô cùng, nếu nó đến sớm một chút thì không biết điều gì sẽ xảy ra.
Gần chiều, đồng chí Bí thư Ngô Xuân Hạ cho gọi tôi đến nhà bà Khuê ở thôn 3, Xuyên Thọ, cách văn phòng khoảng hơn một cây số. Đến đây tôi đã thấy đồng chí Bí thư, anh Chu Cẩm Phong và anh Hải bảo vệ đang đợi. Đồng chí Bí thư giao nhiệm vụ cho tôi bằng mọi cách phải đưa anh Chu Cẩm Phong về Cẩm Thanh, bắt liên lạc với lãnh đạo và du kích xã để anh làm việc và nắm tình hình vùng ven thị xã...
Tôi báo cáo với đồng chí Bí thư và cũng nói to cho anh Chu Cẩm Phong nghe: Tình hình ở Cẩm Thanh hiện nay là "vùng trắng" khó khăn, ác liệt lắm, ngày nào bọn Mỹ cũng thả bom, bắn phá. Đặc biệt vượt qua sông Thu Bồn gần Cửa Đại rất nguy hiểm, sợ không an toàn. Anh Chu Cẩm Phong liền nói, tháng trước anh cũng đã cùng bộ đội thị về Cẩm Thanh, anh em cán bộ, du kích ở được thì mình ở được, không lo ngại gì cả. Đồng chí Hạ trầm ngâm suy nghĩ một lúc và quyết định chuyến đi. Đồng chí Bí thư dặn dò tôi một số điều cần thiết và nhắc nhở phải hết sức cẩn thận, giữ an toàn và về sớm.
Nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm Phong và bìa cuốn “Nhật ký chiến tranh” của ông.
Khoảng 9h tối, tôi đưa anh Chu Cẩm Phong đến một bến sông gọi là Cống Rong, nấp trong đám dừa nước bên bờ hạ lưu sông Thu Bồn. Nhìn bên kia, cách hơn một kilômét, cuối dòng sông là Cửa Đại. Trên bờ là đồn bốt Mỹ - ngụy dày đặc, dưới sông bọn hải thuyền chạy qua, chạy lại tuần tra suốt đêm dưới vầng sáng điện lờ mờ. Đối diện Cống Rong là bờ sông thuộc thôn 2, xã Cẩm Thanh, hai bờ cách nhau khoảng hơn một kilômét. Đêm tối vắng lặng, tôi hỏi anh Chu Cẩm Phong có bơi được không? Anh bảo hồi nhỏ anh cũng bơi trên dòng sông này - phía trên kia, anh chỉ tay về phía Hội An. Giọng anh trầm xuống: "Hơn mười lăm năm rồi anh chưa trở lại".
Quần áo, súng đạn của tôi và anh bọc trong hai túi ni lông. Tôi không quên thông báo với anh kỷ luật và phương pháp vượt sông này. Đặc biệt là xử lý tình huống nếu gặp máy bay trực thăng Mỹ đi soi đêm hoặc hải thuyền của chúng tuần tra. Theo dõi tình hình thấy yên tĩnh, gần nửa đêm tôi nói to trong bóng tối: "Lệnh xuất phát". Anh nhìn tôi và cười. Chỉ có hai anh em ôm hai bọc ni lông bơi qua sông.
Nhìn bầu trời đầy sao, giữa dòng nước mát lạnh, tôi mơ tưởng nếu không có chiến tranh, không có bọn giặc đang rình rập kia, mình tự do thả người trôi trên dòng sông này thì thú vị biết bao nhiêu. Đây là dòng sông quê tôi, hồi còn nhỏ tôi cùng bạn bè trốn học bơi lội, ngụp lặn trên dòng sông này không biết bao nhiêu lần. Tuổi thơ hồn nhiên cắp sách đến trường, mơ ước một ngày mai tươi sáng. Nhưng rồi giặc Mỹ đến, bắt tôi phải cầm súng. Dòng sông quê hương gắn liền với mẹ, với tuổi thơ tôi và cuộc chiến đấu đầy hiểm nguy, ác liệt. Bạn bè, đồng đội của tôi nhiều người mãi mãi nằm lại trên dòng sông này.
Thấy anh hơi mệt tôi bơi sát bên cạnh động viên anh cố lên và cuối cùng chúng tôi cũng vượt sông an toàn. Lên bờ mặc quần áo vào, đi được vài chục mét, may quá tôi gặp anh Ba - Trung đội trưởng trinh sát đặc công Thị đội Hội An. Anh người cùng xã quen biết tôi hồi còn nhỏ và khi về Đội giao liên của thị xã, tôi gặp anh nhiều lần, anh rất thương tôi. Tôi nhanh nhạy chỉ tay về phía anh Chu Cẩm Phong vừa giới thiệu, vừa ra vẻ như khoe: "Đây là nhà văn Chu Cẩm Phong, cán bộ tuyên huấn Khu V về công tác". Tôi tưởng anh vui mừng được gặp cán bộ khu, ai ngờ anh mắng tôi như tát nước: "Tình hình hiện nay ở đây ác liệt lắm, ngày nào máy bay Mỹ cũng thả bom vài ba lần, bọn lính Mỹ ở Cầu Cống lùng sục, phục kích; bọn ngụy ở Sông Đò lần ra vây ráp, càn quét, anh em ta đói khát, thương vong nhiều, nguy hiểm lắm. Trong lúc nước sôi lửa bỏng như thế này tại sao mày dám đưa cán bộ Khu về đây để "nướng" à?". Thấy mình hơi lỡ lời, anh Ba xoa đầu tôi và nói với anh Chu Cẩm Phong: "Xin lỗi, nói vậy chứ thằng nhỏ này được lắm đó", cả ba chúng tôi cùng cười.
Anh Ba trực tiếp đưa chúng tôi về cuối thôn 3, xã Cẩm Thanh, đến một túp lều tranh xơ xác nằm sát rừng dừa nước Bảy Mẫu, được ngụy trang che chắn rất kín đáo. Đây là "bản doanh" của ông Phạm Trợ - một lão du kích kỳ cựu bám trụ trên vùng đất đầy ác liệt, nguy hiểm và vô cùng gian khổ này. Đây cũng là nơi cán bộ, bộ đội về bắt liên lạc làm việc với địa phương. Gặp được ông Phạm Trợ (gọi là ông Trợ già) tôi mừng quá, ông là người bà con họ hàng, rất thân thiết với ông nội tôi. Cả ngày hôm đó có hai lần máy bay "khu trục" Mỹ thả bom ở thôn 2 và đầu thôn 3 xã Cẩm Thanh, cách chỗ chúng tôi ở chưa đầy một cây số. Ông Trợ già báo với mấy anh cán bộ xã đến gặp và trao đổi công việc với anh Chu Cẩm Phong. Tôi ra mò cua, tôm, bắt cá dưới các gốc dừa nước để về chiêu đãi anh Chu Cẩm Phong đặc sản quê tôi. Chiến tranh, đạn bom ác liệt, "vùng trắng" không ai khai thác nên cua cá rất nhiều.
Đến tối tôi đưa anh Chu Cẩm Phong về cuối thôn 6, Cẩm Thanh. Hai anh em chọn một hố bom sâu hoắm bên bờ Sông Đò để nằm quan sát, phía trước là một đám dừa nước che kín. Bên kia bờ sông cách chừng 50m, qua một đám ruộng là con đường nhựa chạy từ thị xã Hội An đi Cửa Đại. Đã hơn 10 giờ đêm mà xe "nhà binh" của Mỹ - ngụy chạy ầm ầm trên đường. Có lẽ chúng đang chuyển quân hoặc đang tuần tra bảo vệ Hội An, quận lỵ Hiếu Nhơn, cầu Phước Trạch và đồn Cửa Đại... Nhìn xuống bên kia sông khoảng hơn 100m là Cẩm An, nằm sát biển. Có cầu Phước Trạch, hai bên đầu cầu là đồn bốt của bọn Mỹ - ngụy, lính Nam Triều Tiên. Ánh sáng của đèn điện, đèn pha phả xuống mặt sông lấp lánh. Tưởng chừng như ta chỉ đưa tay ra là sờ đến bọn chúng. Xa xa về hướng Tây là nội ô thị xã Hội An, ánh điện rực sáng một góc trời. Anh Chu Cẩm Phong đang trầm ngâm suy nghĩ, bỗng anh nói với tôi: "Mình chỉ cần bơi qua 50m, bước lên con đường nhựa kia và đi hơn 10 phút là đến Hội An. Dưới cái đám sáng vàng nhạt kia là má của anh và bao nhiêu người thân yêu đang ở đó, thế mà bao nhiêu năm rồi anh vẫn chưa đi qua được đoạn đường ngắn ngủi ấy và không biết đến bao giờ..." - giọng anh rất xúc động.
Tôi nói với anh rằng: "Từ con đường nhựa kia đi bộ chưa đầy 5 phút, qua khỏi cái Cầu Cống ấy là khu tập trung của bọn Mỹ - ngụy. Nơi ấy trong các dãy nhà tôn trống huơ, trống hoác có ông bà nội của em. Con cháu rất nhiều nhưng đều đi tham gia cách mạng. Nhiều người đã hy sinh, bây giờ chỉ có hai ông bà già yếu không ai chăm sóc. Đã lâu lắm rồi em không biết ông bà sống ra sao". Tôi cảm thấy môi mình mằn mặn, không biết muối từ gió biển thổi vào hay nước mắt trên hai gò má của tôi lăn xuống. Tôi nghẹn ngào xúc động.
Đêm khuya, gió từ Cửa Đại thổi vào nghe lành lạnh. Hai anh em nằm im không nói gì. Có lẽ mỗi người đều đang có suy tư riêng, nhưng tôi tin có một điều chung là đang nghĩ về quê hương, gia đình, về những người thân yêu đang xa cách, về cuộc chiến đấu đầy ác liệt, gian khổ, hy sinh nhưng vững một niềm tin chiến thắng.
Bỗng hàng tràng súng đại liên bắn xối xả từ đồn Mỹ đầu cầu bên kia, đạn bay vèo vèo trên đầu, cắm phầm phập ở dưới các bụi dừa nước phía trước mặt chúng tôi. Tiếng đại bác "từng bầy" bắn từ tàu Mỹ ngoài biển vào gầm rú, nổ chát chúa chung quanh nghe rợn người. Tình hình y như anh Ba trinh sát mắng tôi hôm trước ở bờ sông. Tôi giục anh Chu Cẩm Phong về, nhưng anh bảo để cho anh nằm thêm một chút nữa, ở vùng ven này không dễ gì có được.
Khoảng 3h sáng, hai anh em về đến "bản doanh" của ông Trợ già. Mới bước vào đã thấy ông ngồi bên miệng hầm bảo: "Tụi bay đi lâu rứa, nghe tiếng ca nông nổ ầm trời ở phía nớ tau lo quá. Thôi rửa mặt rồi ăn cháo, chú mới nấu, cá bắt từ dưới mương dừa lên đó, tươi lắm! Cánh bọn thằng Ba đi trinh sát chắc gần sáng mới về, tụi nó ăn sau". Càng về sáng, trời sương lạnh, cơn đói đến cồn cào, mặc cho tiếng đại bác gầm rú, hai anh em húp cháo soàn soạt, ngon lành. Ông Trợ già nhìn hai anh em tôi vừa lắc đầu, vừa cười...
Mới chợp mắt được một chút mà đã đến 10h sáng, một trận bom dữ dội nổ gần căn hầm có mấy anh du kích ở. Tiếng la hét náo động, có một anh du kích tôi không nhớ tên bị một mảnh bom sượt qua mông. Rất may tất cả đều an toàn. Ngày hôm đó anh Chu Cẩm Phong tiếp tục trao đổi công việc với các anh cán bộ du kích địa phương và cán bộ thị đội để thu thập tài liệu về các trận đánh của ta từ đầu năm đến nay ở Hội An.
Buổi tối tôi đưa anh đi nói chuyện với mấy anh du kích đang làm rớ ở bên cồn. Anh muốn ngủ lại với anh em du kích nhưng vì nửa đêm bọn địch ở đồn Gành bắn đại liên đạn bay sáng rực, trên trời máy bay Đơ-cu-ta (loại cánh quạt) quần đảo, thả đèn sáng nên tôi sợ không an toàn và đưa anh về lại "bản doanh" ông Trợ già. Sáng hôm sau, qua hai trận bom, có báo động bọn "Mỹ lếch" đang xuống thôn 3.
Gọi là "Mỹ lếch" vì bọn lính Mỹ đi phục kích từng toán nhỏ, rất bí mật và thủ đoạn tinh vi. Cán bộ, bộ đội, du kích thường bị động và tổn thất với bọn này. Anh Ba và hai chiến sĩ trinh sát đưa tôi và anh Chu Cẩm Phong vào sâu trong rừng dừa Bảy Mẫu để lẩn tránh. Anh Ba trao đổi với anh Chu Cẩm Phong, tình hình này hai anh em không thể bám trụ ở đây được nữa, cần phải trở lại Duy Xuyên ngay trong đêm nay và anh cử hai chiến sĩ đặc công nước đưa anh Chu Cẩm Phong và tôi vượt sông trở lại Xuyên Thọ. Chúng tôi không kịp chia tay ông Trợ già. Anh Ba đưa anh em tôi ra bờ sông, rất lưu luyến và cảm động. Sau này anh Ba hy sinh trong khi chỉ huy đánh đồn địch ở Cồn Chài, Hội An. Và ông Phạm Trợ được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Sáng hôm sau về đến cơ quan ở Xuyên Thọ, Duy Xuyên, đồng chí Ngô Xuân Hạ rất mừng vì chuyến đi tuy có khó khăn nhưng trở về an toàn. Anh Chu Cẩm Phong báo cáo được kết quả rất tốt. Anh là người làm việc không biết mệt mỏi. Tuy mới ở vùng ven trở về nhưng ngày hôm đó anh tiếp tục làm việc với mấy anh tuyên huấn thị xã, có cả cô Bảy Nhành cụt tay là Trưởng ban Thương binh xã hội của thị xã, cô rất yêu văn nghệ, ở nhà bà Khuê thôn 3, xã Xuyên Thọ, bên cạnh căn hầm tránh bom, pháo. Tôi ngồi bên ngoài dỏng tai nghe say sưa anh nói về văn hóa, văn nghệ chống Mỹ, về phát động phong trào văn nghệ quần chúng sáng tác ca dao chống Mỹ, động viên tinh thần cán bộ, bộ đội, nhân dân hăng say lao động, chiến đấu...
Trước khi chia tay anh Chu Cẩm Phong, tôi đưa một quyển sổ tay của tôi đã chép nhiều bài thơ của Tố Hữu, Thu Bồn, Dương Hương Ly... vì tôi rất yêu thơ từ nhỏ, nói: "Anh viết tặng cho em một bài thơ để làm kỷ niệm". Sáng hôm sau, trước khi lên đường anh trả lại quyển sổ, tôi rất mừng, nhưng khi đọc mấy dòng: Con ong làm mật yêu hoa/ Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời/ Con người muốn sống con ơi/ Phải yêu đồng chí, yêu người anh em", tôi bảo đây là thơ Tố Hữu, không phải của anh. Anh bảo đúng thế, anh viết văn chứ không làm thơ. "Khi nào anh sẽ viết một chuyện về em".
Đây là lần cuối cùng tôi được gặp anh Chu Cẩm Phong. Cuối năm 1968, tôi được ra miền Bắc chữa bệnh và học tập. Đầu năm 1970, đồng chí Ngô Xuân Hạ ra Hà Nội chữa bệnh đến trường Học sinh miền Nam Đông Triều thăm tôi và có đưa cho tôi một tờ báo Cờ giải phóng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Khu Trung Trung bộ đã ngả màu (tôi không nhớ số và ngày phát hành) bảo rằng của anh Chu Cẩm Phong gửi tặng tôi, nhưng vì không có người ra miền Bắc nên chú Hạ giữ lại đến bây giờ mới trực tiếp mang ra cho tôi. Trong số báo này có đăng bài bút ký "Gió lộng từ Cửa Đại" có lẽ anh tặng tôi kỷ niệm những ngày ở vùng ven Hội An.
Giữa năm 1971, tôi nhận được tin đau đớn: Anh Chu Cẩm Phong đã hy sinh tại chiến trường Duy Xuyên, Quảng Đà.
Bốn mươi sáu năm trôi qua, từ một cậu bé giao liên 15 tuổi, tôi trở thành một tướng lĩnh trong lực lượng CAND. Trong suốt cuộc đời công tác, chiến đấu trên mọi miền của Tổ quốc và trên chiến trường nước bạn đã để lại trong tôi nhiều niềm vui, nỗi buồn. Nhưng mấy ngày ngắn ngủi đi cùng anh Chu Cẩm Phong về vùng ven Hội An năm ấy là kỷ niệm có một không hai trong cuộc đời binh nghiệp của mình.
Kỷ niệm 73 năm ngày sinh của anh (12/8/1941 - 12/8/2014), 43 năm ngày anh ra đi (1/5/1971 - 1/5/2014) và ngày Thương binh liệt sĩ 27-7, tôi viết mấy dòng kể lại một "Kỷ niệm vùng ven" như một nén hương lòng tưởng nhớ Chu Cẩm Phong - người anh quê hương, người đồng chí kiên cường, một nhà văn - chiến sĩ - liệt sĩ - anh hùng...
Tháng 7/2014