Kỷ niệm cuối cùng với nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc

Gặp Ngọc, điều ấn tượng nhất với tôi là một ngoại hình có phần dị biệt. Có lẽ do nắng gió công trường "đày ải" những năm tuổi trẻ làm thợ thủy điện, đã khiến con người anh gân guốc, già nua trước tuổi. Khát vọng văn chương đã âm ỉ cháy trong anh từ những năm tháng lao động nhọc nhằn, giờ như được sổ lồng, được bùng lên khi anh rời bỏ hẳn sự ràng buộc bởi những việc khô khan chốn cát bụi công trường, được toại nguyện theo đuổi niềm đam mê sáng tạo.

Đến bây giờ tôi không còn nhớ chính xác là đã gặp và quen Nguyễn Lương Ngọc trong hoàn cảnh nào. Chỉ nhớ rằng đó là khoảng thời gian 1987- 1988, khi Ngọc rời Thủy điện Hòa Bình về học khóa 4 - Trường Viết văn Nguyễn Du. Cùng đợt ấy với Ngọc từ Hòa Bình về còn có Tạ Duy Anh, Vũ Hữu Sự…Gặp Ngọc, điều ấn tượng nhất với tôi là một ngoại hình có phần dị biệt. Có lẽ do nắng gió công trường "đày ải" những năm tuổi trẻ làm thợ thủy điện, đã khiến con người anh gân guốc, già nua trước tuổi. Khát vọng văn chương đã âm ỉ cháy trong anh từ những năm tháng lao động nhọc nhằn, giờ như được sổ lồng, được bùng lên khi anh rời bỏ hẳn sự ràng buộc bởi những việc khô khan chốn cát bụi công trường, được toại nguyện theo đuổi niềm đam mê sáng tạo.

Từ năm 1985, tôi đã có một ngôi nhà nhỏ ở gần cống Mọc, làng Giáp Nhất, bên kia sông Tô Lịch. Nhưng vì độc thân, nên ít khi ở, phần nhiều thời gian khóa cửa để đấy, hoặc cho bạn bè mượn. Tại ngôi nhà này, có lần trên một cái thớt kê tạm làm bàn, nhà thơ Trần Quang Quý đã hoàn thành bài bút ký nổi tiếng "Con đường có máu chảy" viết về những xung đột ở nông thôn Thái Bình những năm đầu đổi mới. Tôi hàng ngày làm việc ở cơ quan, hết giờ không về nhà, mà lọc cọc xe đạp tìm chốn bạn bè giao du bù khú. Trong nhiều địa chỉ quen thuộc, có Trường Viết văn Nguyễn Du tôi thường lui tới, vì ở đấy có nhiều bạn viết mới quen, cùng lứa, lại thấy nhiều người có vẻ hợp với mình. Trong số bạn văn ở Trường Nguyễn Du khóa ấy, thì người gần gũi với tôi nhất là Nguyễn Lương Ngọc và Dương Thuấn. Hầu như không có cuộc vui nào vắng mặt các anh.

Với Nguyễn Lương Ngọc, trời cho anh có gương mặt dị tướng, trán rộng, mắt sâu, cằm dài, thân hình cao lêu đêu, bình thường nói năng nhỏ nhẻ; ẩn sau dung nhan ấy là một tấm lòng trân quý bao dung với bạn bè, thể hiện ở tác phong giao tiếp, ứng xử xuề xòa hàng ngày. Anh rất quý nhà thơ Trinh Đường và nhà thơ Trinh Đường cũng rất yêu quý anh. Hình như cứ rảnh rỗi là nhà thơ Trinh Đường lại đến chơi với Ngọc.

Có lần nhà thơ Trinh Đường nhận được bài thơ lục bát hay của Nguyễn Thanh Mừng từ Nghĩa Bình mới gửi ra, cũng đem đến đọc cho Ngọc nghe. Nói vậy để thấy họ trân quý nhau đến mức nào. Nhưng những ai chơi với Ngọc, hiểu Ngọc, mới thấy anh là người cực kỳ khó tính, rất quyết liệt bảo vệ các quan điểm của mình, một khi anh cho là đúng. Với thơ lúc này anh đang có dấu hiệu cựa quậy đổi mới cách tân. Ngọc làm thơ như là đánh vật với từng con chữ, với lý trí, như là nhìn vào những cái vô hình, cái tưởng tượng, đảo lộn mọi thứ vốn đã thành trật tự lâu nay mà làm ra thơ.

Khi mỗi bài thơ mới ra đời, anh đem trình làng trong các buổi sinh hoạt đọc thơ ở Hội Thơ Thanh Xuân. Những bài thơ đầu tiên của Nguyễn Lương Ngọc sau đó được tập hợp in trong tập "Từ nước", tập thơ đầu tay này đã có bút pháp, không khí khác hẳn mạch thơ bấy giờ. Không chỉ làm thơ, Ngọc còn có năng khiếu hội họa. Với màu sắc, đường nét anh cũng rất kỹ tính. Tôi nhớ lần Ngọc giúp tôi làm cái bìa tập thơ đầu. Ngọc đến nhờ một họa sĩ - bạn thân của Ngọc. Phác thảo xong bìa, khi xem, tôi bảo đẹp rồi, nhưng Ngọc bảo chưa được, phải làm đi làm lại theo ý Ngọc mới xong. Đến cuốn thứ hai, Ngọc tự nhận làm bìa cho tôi, anh tỉa tót đến sốt ruột. Có lẽ kỷ niệm còn lại duy nhất là cái bìa sách của anh đến nay tôi còn lưu giữ.

Nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc trong chuyến hành trình xuyên Việt năm 1993. Từ trái qua: Nhà văn Hòa Vang, nhiếp ảnh gia Nguyễn Đình Toán, nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc và nhà thơ Hoàng Cầm.
Nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc trong chuyến hành trình xuyên Việt năm 1993. Từ trái qua: Nhà văn Hòa Vang, nhiếp ảnh gia Nguyễn Đình Toán, nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc và nhà thơ Hoàng Cầm.

Bấy giờ kinh tế eo hẹp, đời sống sinh viên vất vả. Chị Oanh, vợ anh là giáo viên ở Sơn Tây vừa dạy học, vừa nuôi con gái nhỏ. Chị lại mắc bệnh tim, ốm đau thường xuyên, bản thân Ngọc là trụ cột mà chả giúp được gì cho gia đình. Dẫu gì thì vẫn cứ phải học cho xong đã. Thời gian Ngọc học ở trường, bấy giờ có một nhóm bạn viết trẻ ở Hà Nội lập Hội thơ Thanh Xuân cốt để lấy chỗ sinh hoạt vui vẻ. Hội do nhà thơ Trương Nhân Huyền làm Chủ tịch (tự phong), Nguyễn Quang Thiều làm Tổng Thư ký, thành viên gồm Trần Quang Quý, Nguyễn Hùng Vỹ, Nguyễn Linh Khiếu, Nguyễn Tấn Việt, Nguyễn Sỹ Đại…dễ đến 30 người. Sau đông người tham gia, phải làm lễ kết nạp, ai muốn vào phải có đơn. Ấn tượng nhất là lá đơn chung xin vào hội của vợ chồng nhà thơ Trần Hòa Bình - Quỳnh Liên đọc trong buổi lễ rất trang trọng. Ngọc là người tham gia muộn nhưng hăng hái nhất. Nhớ hình ảnh Ngọc, là nhớ dáng anh cao lêu đêu cưỡi chiếc xe đạp đua Liên Xô tồng tộc, rong ruổi khắp phố phường Hà Nội.

Mấy năm gần gũi bên nhau, chia sẻ mọi vui buồn. Năm 1992 Ngọc ra trường, bấy giờ anh mới có thời gian vừa tìm việc làm, vừa lo chữa chạy cho vợ. Ngày đó gia đình tôi có ông cậu ở Cao Bằng làm nghề Đông y giỏi, nhận lời chữa bệnh cho vợ Ngọc. Thế là từ đó Ngọc thường xuyên lui tới sinh hoạt với gia đình tôi. Vợ tôi quê ngoại cũng là đất Đường Lâm, Sơn Tây cùng với Ngọc nên mọi người dễ đồng cảm. Khi đã quen như người nhà, Ngọc còn đưa nhiều bạn bè đến chơi, và không ít lần Ngọc lên tận Trùng Khánh, Cao Bằng, chỗ ông cậu tôi để lấy thuốc cho vợ. Ra trường chưa có việc làm, suốt ngày Ngọc lượn lêu têu. Một hôm mới sáng ra, ông anh đồng hao với tôi gọi điện, bảo: "Chú xuống đây ăn sáng cùng chú Ngọc vừa ở Cao Bằng xuống". Thì ra Ngọc đi lấy thuốc, nhảy xe Cao Bằng từ chiều hôm trước, tinh mơ hôm sau đã đến Hà Nội.

Hôm ấy sau Tết, trời rất lạnh, trông Ngọc phờ phạc vì mất ngủ, hai con mắt đã sâu, càng sâu thăm thẳm. Ngọc bảo đất Cao Bằng rất đẹp. Ngọc có dự định đi một chuyến vào Nam để biết đây, biết đó. Dự định đó đã thành hiện thực, đó chính là chuyến Ngọc đi bộ xuyên Việt cùng nhà văn Hòa Vang. Thú thực, lúc đầu nghe nói Ngọc đi bộ xuyên Việt tôi không tin, vì trước đó tôi đi ra, đi vào nhiều lần, biết đường đất rồi. Hai con người ốm yếu thế, tinh thần thì hăng hái, nhưng sức đâu mà đi. Nghe nói quanh chuyến đi có nhiều chuyện đàm tiếu, cười ra nước mắt, nhưng đến khi về không thấy Ngọc nói gì, tôi cũng không hỏi. Sau này khi Ngọc mất, mấy lần ngồi uống bia cùng nhà văn Hòa Vang ở phố Lý Thường Kiệt, lúc vui tôi định hỏi Hòa Vang về chuyến đi ấy, nhưng rồi lại thôi, vì nghĩ chuyện qua rồi. Bây giờ cả hai ông đã ra người thiên cổ, không biết ở dưới ấy đã gặp nhau chưa, có nổi hứng cùng nhau đi đâu nữa không.

Tập việc mãi rồi Ngọc được nhận làm hợp đồng ở chuyên đề Văn học Dân tộc thiểu số, Báo Văn nghệ. Nhớ một năm, vào mồng 3 Tết, khoảng 8 giờ tối, Ngọc đến nhà tôi ở đường Trường Chinh. Mặc dù có sẵn hơi men, Ngọc vẫn vui vẻ bữa tối cùng gia đình. Sau đó anh nổi hứng bảo tôi đi thăm nhà thơ Tạ Vũ. Vì trời đã khuya và Ngọc cũng uống rồi, nên tôi gàn, nhưng Ngọc vẫn nhất quyết. Anh còn giành cầm lái xe máy của tôi. Vì tôi không biết nhà anh Tạ Vũ, nên đành để Ngọc cầm lái.

Tôi nhớ không biết bao lần Ngọc loạng choạng va quệt, thậm chí đâm vào tường, vì đường nhỏ ngõ ngách, gấp khúc. Tôi bảo để tôi cầm lái, nhưng Ngọc nhất quyết không cho. Hóa ra là Ngọc mới tập đi xe máy nên ham. Đến nhà anh Tạ Vũ, Ngọc đã say rồi, vào nhà lại thấy Tạ Vũ đang ngồi bệt giữa căn phòng trống hoang, tay vẫn cầm chai rượu, mặt đã chín dừ. Chị Điều vợ anh Tạ Vũ thấy chúng tôi đến, hăng hái pha nước. Tạ Vũ bảo dẹp chuyện nước, để uống rượu. Đêm ấy Ngọc say, tôi phải khốn khổ mới đưa được Ngọc về. Ngọc mới tập nên đi xe máy vẫn chưa thạo, thế mà sau đó chỉ vì cuộc tranh luận về cái giải văn chương gì đó, anh đã thể hiện mình quá chén ở nhà một người bạn, để rồi đi xe lạ, lái không vững, bị tai nạn.  Bao ước mơ dở dang đã bị cánh cửa số phận vĩnh viễn khép lại.

Trước khi Ngọc bị tai nạn mấy tuần, có hôm tôi bất ngờ gặp anh ở đoạn 51 Trần Hưng Đạo. Tôi gọi mời anh vào quán nước cạnh nhà xuất bản Văn học cũ, làm mấy chai bia Hà Nội. Uống xong rồi vội vã chia tay vì cả hai đều có việc. Không ngờ đó là cốc bia cuối cùng với nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc. Lúc anh bị nạn, tôi đến thăm, nhưng bấy giờ anh có còn biết gì nữa đâu. Đến đây, tôi bỗng nhớ câu thơ trong bài "Gọi Hạc" của Nguyễn Lương Ngọc: "Hạc trắng/ Hạc trắng/ Những con sinh ra thì đã chết/ Những con chưa chết thì chưa sinh ra".

Cái triết lý sự sống ấy đâu chỉ thuộc riêng về loài chim chóc. Phải không Ngọc?.

Cuối năm 2013

Hà Văn Thể

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.