Không biết sợ và biết sợ

“Không biết sợ” - đó là cụm từ mà nhà ngữ văn học kiệt xuất người Nga Mikhail Bakhtin đã sử dụng để nói về một trong những phẩm chất cơ bản của thể loại tiểu thuyết.

 Theo lý thuyết của Bakhtin, tiểu thuyết chỉ có thể là tiểu thuyết khi, trước tiên, nó gột bỏ được thái độ ngoan ngoãn cúi đầu kính cẩn trước cái “khoảng cách sử thi” - khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, giữa chủ thể nhận thức và đối tượng. Với tinh thần không biết sợ, không còn sợ ấy, chủ thể nhận thức lôi tất cả đối tượng vào xưởng thực nghiệm của anh ta - môi trường của sự tiếp xúc trực tiếp sống động, môi trường của sự “suồng sã hóa” - để quan sát nó, sờ nắn nó, từ trên xuống dưới từ trước ra sau; vật ngửa nó, lật sấp nó, lộn trái nó ra, tháo dỡ nó thành từng mảnh để có những nhận biết cụ thể, đa dạng về nó. Chỉ có như vậy, tiểu thuyết mới thực sự là thể loại của cái vẫn đang ở thì hiện tại tiếp diễn, chưa bị kết đặc, chưa bị đông cứng lại, chưa hoàn thành và không bao giờ hoàn thành. ( luận và thi pháp tiểu thuyết. M. Bakhtin. Phạm Vĩnh Cư dịch. NXB Hội Nhà văn, 2003).

Cụm từ “không biết sợ” xuất hiện đậm đặc trong tiểu luận có tên Vòng tay kính cẩn cúi đầu của nhà văn Hồ Anh Thái (in trong sách Hà Nội hướng nào cũng sông, Công ty Sách Phương Nam và NXB Văn nghệ, 2009). Nhà văn dùng cụm từ đó để chỉ một trạng thái tâm lý phổ quát toàn xã hội, trải dài qua các giai đoạn với những biểu hiện khác nhau. Thời trước, thời kỳ đầu của nước Việt Nam mới, thì: “Thoát khỏi ách thực dân phong kiến rồi, ta làm chủ đời ta, không có ai làm gì nổi ta. Nhà kho hợp tác là cái chùa cũ đã dẹp hết, tượng với chuông với khánh bỏ lẫn giữa đám nông cụ gỉ sét. Nghê đá phỗng đá chó đá lăn lóc bờ bụi, về sau mấy ông buôn đồ cổ thấy có giá mua về, lấy về, bày trong dinh trong phủ tư nhân. Cần thêm diện tích thì kéo đi phá miếu thờ, đập bát hương, tỏ rõ chí anh hào không biết sợ”. Bây giờ, thời của làm ăn trục lợi, thì: “Ngập tràn một tinh thần không biết sợ, không sợ gì và không sợ ai. Ráo riết chạy chọt vận động xin xỏ để được đề bạt, lên lương, xin bằng cấp, xin bằng khen, giấy khen, giải thưởng. Xin không được thì mua. Mua không được bằng tiền thì mua bằng nhiều tiền. Mua nhiều tiền không được thì nguyền rủa, chửi bới, bôi nhọ”. (Sđd, trang 48, 49).

Minh họa: Lê Phương
Minh họa: Lê Phương

Trong hai trường hợp “không biết sợ” kể trên, trường hợp thứ nhất có thể gọi là cái không biết sợ tích cực. Đó là cái không biết sợ mang tinh thần của kẻ khám phá, sáng tạo, dám tiếp cận tất cả ở khoảng cách gần để nhận chân sự thật nhiều mặt về đối tượng. Trên cơ sở của nhận thức ấy, người không biết sợ đảm nhận chức năng của Chúa trời: anh ta hoán đổi tất cả, tái cấu trúc tất cả, và tạo ra cả một thế giới trong tác phẩm tiểu thuyết của mình. Trường hợp thứ hai là cái không biết sợ tiêu cực, mang tính thoái triển, cái không biết sợ của sự mù quáng, ngu độn, tham lam và hãnh tiến. Kẻ không biết sợ giẫm đạp lên tất cả mọi giá trị, không trừ những giá trị thiêng liêng nhất, một cách hồn nhiên. Hắn làm đảo lộn thế giới theo chiều hướng xấu đi, khiến các sự vật không được đặt vào đúng chỗ của nó, khiến mọi chuẩn mực về cái tử tế ở trên đời bị xáo lộn tệ hại.

Đã có “không biết sợ” thì ắt phải có “biết sợ”. Dân gian vẫn truyền đời câu ca: “Thứ nhất sợ kẻ anh hùng/ Thứ nhì sợ kẻ cố cùng liều thân”. Đây là một ứng xử đầy khôn ngoan, thậm chí có thể gọi là minh triết cũng được. Bởi, kẻ anh hùng, với những phẩm chất cá nhân vượt ngưỡng, với ý chí trùm đời và những hành động mang kích cỡ khác thường, hoàn toàn có thể khiến cho người ta phải nể phục, phải cảm thấy mình trở nên bé nhỏ trước anh ta, thậm chí chỉ dám chiêm ngưỡng chứ không dám tới gần. Còn kẻ cố cùng, tức là kẻ không có gì, không còn gì để mất, thì có thể còn đáng sợ hơn. Đâu là cái phanh hãm cho sự điên cuồng của anh ta khi bị đẩy đến thế chân tường? Chẳng sở hữu được gì cả trên đời ngoài tấm thân tứ đại, anh ta sẵn sàng thí nó, vứt nó đi để thỏa mãn cho nỗi uất ức khi phải chịu sự khinh thường, sự bị chà đạp tàn nhẫn.

Thực tế cho thấy, mọi cuộc cách mạng xã hội ở mọi quốc gia dân tộc, nếu thành công, phần lớn đều phải dựa rất nhiều vào những con người này, với tư cách là nguồn sức mạnh cơ bắp khổng lồ, là chất đốt vô cùng giàu nhiệt năng của sự vận động lịch sử. Nhưng đó là sự “biết sợ” trước những con người, những loại người đặc biệt. Còn có một sự “biết sợ” khác, đáng nói: biết sợ trước những giá trị tâm linh, vô hình, thiêng liêng. Người viết bài này còn nhớ một lần cùng nhà thơ Hoàng Trần Cương (tác giả của trường ca Trầm tích nổi tiếng một thời) về Đô Lương - Nghệ An để thực hiện bộ phim chân dung về ông.

Có một cảnh cần quay: Hoàng Trần Cương lững thững đi dọc hành lang cắt mặt chính điện nhà thờ họ, từ đầu này đến đầu kia, không dừng lại. Tất cả đã bàn bạc và nhất trí. Thế nhưng quay ba đúp, lần nào cũng vậy, cứ bước chân đến trước bàn thờ tổ tiên nhà họ Hoàng là Hoàng Trần Cương dừng lại, kính cẩn chắp tay vái lạy, bảo sao cũng không nghe! Dường như có một nỗi sợ hãi mơ hồ nào đó vẫn nằm sâu trong tiềm thức của con người. Trong bối cảnh đặc thù, nỗi sợ thoát ra, xâm chiếm cơ thể anh, đè bẹp ý thức anh, và bắt anh - theo cơ chế tự động hóa - phải kính cẩn cúi đầu trước bài vị của những đấng tổ tiên đã khuất tự xa xưa.

Có lẽ, nỗi sợ tâm linh này có một nét gì đó từa tựa như đức tin tôn giáo: người ta biết sợ những thế lực vô hình và thiêng liêng. Trong chừng mực nào đó thì điều này là cần thiết, nỗi sợ ấy sẽ là cái barie, là lời cảnh báo văng vẳng trong đầu bất cứ khi nào con người đứng bấp bênh bên bờ vực của sự phạm tội.

“Biết sợ”, đó còn có thể là sự “biết sợ” mà tôi tạm gọi là “sự biết sợ mang tính trí thức”. ở ta, một nhà phê bình văn học nổi tiếng thông minh và biết nhiều ngoại ngữ có lần từng tâm sự: Đọc nhiều tài liệu nghiên cứu của nước ngoài bằng tiếng nước ngoài thật vô cùng có lợi, mà cái lợi đáng kể nhất, là mình biết sợ! Quả có thế. Nếu không biết hoặc không thèm biết đến thế giới ngoài lãnh thổ quốc gia người ta đã và đang làm được những gì, ta rất dễ bị rơi vào một tâm lý tự mãn ngu xuẩn. Phát hiện ra điều gì đó mới mẻ, ta cứ nghĩ ta may mắn nhận được ánh sáng mặc khải, hoặc đơn giản, ta là thiên tài.

Trong khi thực tế thì ta chỉ làm được cái việc cỏn con là mở những cánh cửa đã mở rồi, tìm ra được một châu Mỹ mà năm, sáu thế kỷ trước Colombus đã từng đặt chân đến. Nhưng khi tầm nhìn và trường đọc được mở rộng, ta sẽ trở nên biết sợ trước sự mênh mông, trước độ sâu của tri thức và khả năng sáng tạo to lớn của nhân loại. Và, đây mới thực là điều quan trọng: ta không còn dám nhận định ẩu, không còn dám phán đoán bừa, không còn dám đưa ra những kết luận chắc như đinh đóng cột khi mà hệ số tham chiếu của những nhận định ấy là tối thiểu hoặc thậm chí không có gì. (Tiếc thay, đó lại là một trong những thực tế đáng buồn trong đời sống nghiên cứu khoa học và sáng tạo văn học nghệ thuật ở ta suốt nhiều năm qua. Biết bao lời tuyên bố đao to búa lớn, biết bao diễn ngôn tán dương văn hoa mỹ miều đã chen chúc có mặt trên các diễn đàn báo chí, các event nghệ thuật chỉ để nói về những “sáng tạo”, những “phát kiến” mà thực ra ở nước ngoài người ta làm từ rất lâu rồi. Hậu hiện đại, Tân hình thức, Sắp đặt, Trình diễn, Dân gian đương đại v.v… đủ các thứ hàng nhập cảng đã có lúc bị/ được mạo nhận như là sản phẩm độc sáng của vài anh nghệ sỹ Việt Nam nào đó. Xét cho cùng, đây chính là một dạng phản đề của sự biết sợ mang tính trí thức: người ta nghĩ rằng thiên hạ cận thị cả, chẳng có ai, trừ mình ra, biết ở ngoài kia có gì!).

“Sự biết sợ mang tính trí thức” kéo theo nó một hệ quả kép. Với những người bị lẫn vào cái tập hợp “mẫu số chung tầm thường” - tầm thường cả về tài năng và bản lĩnh sáng tạo - thì biết sợ cũng đồng nghĩa với thúc thủ, không còn làm gì được hết. Tất cả những gì ta có thể làm, thiên hạ làm xong cả rồi. Mọi con đường đều đã dày đặc chi chít dấu chân người đi trước. Nhìn đâu cũng thấy núi cao án ngữ. Nghĩ được cái gì rồi rốt cuộc cũng nhận ra đó chỉ là hàng thứ phẩm. Trong những trường hợp như vậy, sự hoang mang, sự chán nản trở thành tâm lý thống ngự. Người ta, hoặc bị tê liệt, hoặc chấp nhận làm bản sao mờ nhạt vô vị của kẻ khác. Đó có thể gọi là một dạng bi kịch của “sự biết sợ mang tính trí thức”. Nhưng mặt khác, với những người thực sự có tài năng và bản lĩnh, thì “sự biết sợ mang tính trí thức” vừa là thách thức, lại vừa là tác nhân tuyệt vời để họ phát huy đến tối đa những phẩm chất trội của mình. Họ biết vạch ra con đường độc đạo của riêng mình giữa những con đường đã có. Họ biết dựng lên ngọn cô sơn của riêng mình giữa trùng sơn đã có. Tóm lại, họ tạo ra những giá trị mới trên cơ sở của sự nắm bắt những giá trị đã có, hay nói cách khác, trên cơ sở của “sự biết sợ mang tính trí thức”.

Một trong những ví dụ sáng giá cho trường hợp này, có thể kể đến thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương. Nếu tuân thủ nghiêm cẩn các quy phạm nghệ thuật của Đường thi - đã trở thành mẫu mực với những tác phẩm của Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Lý Thương ẩn v.v… - có thể nói, thơ Hồ Xuân Hương sẽ xuống giá khá nhiều. Nhưng bà phá cách, bà khiến cho các quy phạm nghệ thuật tưởng như bất di bất dịch ấy phải nhảy múa, nhảy múa tưng bừng bằng chất liệu tiếng Việt. Và chính điều đó đã góp phần tạo nên cho thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương một giá trị mới, trên nền một giá trị đã ổn định.

Nếu phải nói thêm điều gì đó về câu chuyện “biết sợ”, xin hãy xem đây như đoạn vĩ thanh của bài viết: mỗi cá nhân cần, và nên bảo lưu trong bản thân mình tâm lý biết sợ, thậm chí nên coi đó như là một phẩm chất! Vì nếu không có nó, coi như anh đã không biết đến và không được nếm trải một cảm giác nhân tính. Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, Tiễn đăng tân thoại của Cù Hượu, truyện ma cà rồng của các nước châu Âu, Vàng và máu của Thế Lữ, Bóng ma nhà mệ Hoát của Vũ Bằng, tiểu thuyết kinh dị của Stephen King, rồi các tác phẩm điện ảnh kinh dị của Hollywood, v.v… xét cho cùng, đều có một chức năng (bên cạnh nhiều chức năng khác) là khiến cho người đọc người xem được sống trong và sống với cảm giác sợ hãi. Hơn ai hết, các tác giả của loại tác phẩm nghệ thuật đặc thù này hiểu rằng họ đang thỏa mãn cho một nhu cầu có thật và quan trọng của con người: nhu cầu được sợ!

Hoài Nam

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?