Các chuyến liên lạc giữa căn cứ với các lưới điệp báo nội thành bị gián đoạn dài ngày. Vì vậy, cấp trên quyết định nhập B48 vào cụm B49, căn cứ bám trụ tại vùng Thanh An – Bến Chùa thuộc phía Tây Bắc Sài Gòn. Mấy tháng sau tình hình vùng Đông - Bắc dịu hơn, cấp trên lại có quyết định tách từ B49 ra thành lập một cụm nhỏ với bí số “V8”. Căn cứ bám trụ ở địa bàn B48 cũ.
Theo chỉ đạo của J22 (Đoàn Tình báo miền
Tự tìm đường đưa anh em trở về chiến trường Đông – Bắc. Chọn 2 nơi: Châu Thành và Đông Bến Cát để xây dựng căn cứ. Nếu khó khăn, có thể xây dựng tạm thời tại vùng Bình Cơ, Bình Mỹ thuộc huyện Tân Uyên (cửa ngõ Chiến khu D). Khi đã ổn định căn cứ bám trụ sẽ đón lãnh đạo cụm trở về bằng đường hợp pháp từ Sài Gòn, qua cửa ngõ Lái Thiêu.
Đường chim bay từ Thanh An đến Bến Chùa về Châu Thành, Bình Dương chừng năm, sáu chục cây số, vậy mà thời đó chúng tôi phải đi gần 2 tuần lễ mới tới nơi. Bởi phải đi vòng vèo để tránh các ổ phục kích của địch. Từ Bến Chùa thuộc phía Bắc huyện Bến Cát, vượt sông Sài Gòn sang phía hữu ngạn thuộc đất Củ Chi để trở về Bến Dược.
Chờ ở đó gần một tuần lễ mới có cơ hội vượt sông Sài Gòn trở về phía tả ngạn của dòng sông để hành quân về An Nhơn Tây thuộc vùng Nam Bến Cát. Hai bờ sông Sài Gòn ở vùng đó trước đây là vùng đất trù phú, thanh bình. Vậy mà sau chiến dịch Sê Đa Phôn, đặc biệt là sau Tết Mậu Thân trở thành vùng trọng điểm hủy diệt của địch. Rừng xác xơ, không còn một bụi cây nguyên vẹn. Ngày, là vùng tự do oanh kích. Đêm, tàu địch thường xuyên tuần tiễu, mai phục trên sông. Đó là một “cửa ải” tàn khốc. Nhiều đoàn vượt sông, gặp ổ phục kích của địch, không một người sống sót.
Về tới Nam Bến Cát, chúng tôi trụ lại bên bờ sông Thị Tính, con sông phân ranh giới giữa hai huyện Bến Cát và Châu Thành. Cái chính là để tìm gặp du kích địa phương nắm tình hình Châu Thành và liên hệ với đơn vị giao liên nhờ đưa về bên đó.
Chuyến đi không suôn sẻ, mới tới hôm trước thì hôm sau đụng trận càn của địch, quy mô cấp trung đoàn. Cũng may, nhờ anh em địa phương giúp đỡ, cho mượn một số hầm bí mật xây dựng bên bờ các con rạch nhỏ, nên thoát nạn.
Phải năm ngày sau trận càn, chúng tôi mới tiếp tục lên đường về địa bàn đã được ấn định. Cái khó nhất bây giờ là về Châu Thành, trong lúc chân ướt chân ráo sẽ dựa vào đơn vị nào để đi tìm địa điểm xây dựng căn cứ. Suy đi tính lại, cuối cùng tôi quyết định nhờ giao liên đưa về căn cứ của Quân y huyện Châu Thành. Đó là đơn vị đã gắn bó với B48 từ mấy năm nay. Lãnh đạo Quân y lúc đó là anh Bảy. Biệt danh là Bảy “Cò Ngảng”. Trình độ y sĩ phụ trách đơn vị quân y cấp huyện thời đó là oách lắm rồi.
Dưới trướng của Bảy “Cò Ngảng” là đội ngũ y tá, hộ lý mười mấy người, đa số là nữ. Sống gần họ mấy năm, tôi càng thêm khâm phục và kính nể họ. Chừng ấy người thôi mà mỗi tuần họ phải tiếp nhận hàng chục ca cấp cứu mà thái độ vẫn vui vẻ, hồn nhiên. Họ là tượng trưng của câu ngạn ngữ “lương y như từ mẫu”.
Tình xưa, nghĩa cũ, anh chị em quân y vui mừng đón chúng tôi như đón người thân mới đi xa trở về. Căn cứ dã chiến đặt ở một khu rừng chồi. Đơn vị mới được tăng cường thêm một bác sĩ và 2 y tá. Bác sĩ là một thanh niên vui vẻ, xởi lởi, kém tôi vài tuổi. Hình như đã có sự giới thiệu trước của Trạm trưởng Bảy “Cò Ngảng” về đơn vị chúng tôi, nên “tiệc” chào đón hôm đó vị bác sĩ đã hòa quyện như người quen cũ gặp lại.
Anh giới thiệu tên là Trí, tự Ba Trí, dưới anh còn mấy người em. Cô em gái thứ tư tên là Nhung, đang công tác trong trung đội nữ pháo binh của tỉnh. Mâm ăn là những tấm áo mưa được trải ra trên nền đất. Thực đơn có cá khô, cá mòi hộp và rau rừng. Rượu đế đựng trong các túi nilon được rót ra bát ăn cơm. Bình quân mỗi người một bát. Ba Trí dõng dạc tuyên bố: “Mỗi người một chén (bát), “thân ai người ấy lo”. Ai không cạn chén thì không được ăn cơm. Phái nữ được ưu tiên mỗi người chỉ nửa chén”.
Tàn cuộc liên hoan, còn đúng một bát rượu, Ba Trí bưng lên, tuyên bố: “Còn đúng một chén này thôi. Tôi sẽ thay mặt anh chị em đơn vị uống với anh Ba Dương (tên thường dùng của tôi ở chiến trường) đại diện anh em bên đó. Biết Ba Dương tửu lượng có hạn, nhưng hôm nay quá vui nên phải ráng. Mà anh Ba uống hết nửa chén rượu này là sẽ có thưởng”. Anh em lao nhao hỏi: “Thưởng chi. Thưởng chi vậy?...”. Ba Trí ngập ngừng: “Thì… thì Ba Trí này sẽ gả em gái cho”. Tiếng pháo tay nổi lên mọi người xúm lại khích lệ tôi. Dẫu chỉ là câu vui đùa của Ba Trí, song tôi vẫn thấy 2 tai mình nóng ran. Đó là cuộc nhậu với lượng rượu nhiều nhất đối với tôi kể từ ngày vào chiến trường – một bát rưỡi rượu đế quả là không tưởng!
Sự đời, có những chuyện ngẫu nhiên đến kỳ lạ. Hai ngày sau cuộc “tiệc rượu liên hoan” ấy, một sự kiện đột xuất diễn ra.
Khoảng 9 giờ tối hôm đó, tôi đang làm việc dưới hầm thì nghe lao xao tiếng nói, tiếng cười con gái ở khu vực căn cứ. Một lúc sau, nghe tiếng Ba Trí gọi phía trên:
- Dượng Tư! Dượng Tư ngủ chưa? Dậy ngay. Dậy có khách nè!
Tôi vội lên khỏi hầm, ngỡ ngàng vì ngoài Ba Trí, còn thêm 3 người nữa. Ba Trí vào đề luôn:
- Đơn vị nữ pháo binh vừa tới. Tá túc nhờ ta đêm nay. Hầm này căng được 4 võng không? Nếu được thì cho gửi Tư Nhung và 2 cô bé nữa ở đây.
- Dư sức anh ạ. Hầm cấu tạo căng 2 võng tầng mà.
- Thế thì tốt - Ba Trí ghé vào tai tôi nói nhỏ - Vậy là tôi đã hoàn thành trách nhiệm với dượng rồi đó. Nhớ đừng quên ơn tôi nghen.
Dưới ánh trăng đầu tháng, tôi nhận ra ba cô gái đều sắp sắp như nhau: mũ tai bèo, quần áo bà ba, khăn rằn quấn cổ. Một cô vác chiếc nòng súng cối 62, một cô đeo mâm súng cối và một cô đeo đạn sau lưng. Cô đeo đạn phản ứng tức thì (lúc đó tôi mới biết đó là Tư Nhung):
- Nè… Anh Ba! Sao anh kêu kỳ “dậy” sao lại kêu ảnh là dượng Tư?
Ba Trí cười hề hề, pha vui:
- Ờ… Cứ xuống hầm sắp xếp chỗ ngủ đi. Hỏi… người ta thì sẽ biết.
Với trách nhiệm “chủ nhà”, tôi đốt cây đèn cầy (nến) và căng võng cho 3 người. Ở chiến trường, ngủ võng 2 tầng dưới hầm, gần như trở thành nguyên tắc, nếu có nữ thì ưu tiên nằm tầng trên. Có lẽ vì tính cơ động chiến đấu của nam giới nhanh hơn, nằm tầng dưới sẽ kịp thời ứng phó với tình huống đột xuất.
Dưới ánh sáng của cây đèn cầy, tôi bỗng giật mình thương cảm, hai cô gái ngủ đôi võng bên kia còn quá trẻ, chỉ mười bảy, mười tám tuổi là cùng. Tuổi ấy là tuổi nữ sinh đèn sách chứ đâu phải cuộc đời binh nghiệp. Còn Tư Nhung, người nằm tầng trên tôi, tuổi tác cứng cáp hơn, nhưng cũng chỉ ngoài hai mươi. Gương mặt trái xoan thanh tú. Mái tóc đen dài được cặp cuốn phía sau. Cô gái có nét cười thật duyên và e lệ có lẽ bởi mấy câu vui đùa của ông anh làm cô mất tự nhiên.
Đêm hôm đó là một đêm dài nhất đối với tôi. Trằn trọc mãi chẳng ngủ được bởi căn hầm tràn ngập hơi con gái. Tôi như bồng bềnh trôi trong mơ, giấc mơ của cái thời dòng dã vượt Trường Sơn, thèm khát nhìn thấy một chéo áo bà ba, được nghe một tiếng cười thiếu nữ. Cảm thấy nhột nhột trên má. Tôi quờ tay lên, ôi… tóc! Tôi cố trấn tĩnh lòng mình để khỏi thốt lên thành lời. Suối tóc của cô gái xõa ra hai bên cánh võng phủ xuống mặt tôi. Ôi! Một hương thơm rất lạ. Định thần lại tôi mới nhận ra đó là hương của lá chanh tỏa ra từ suối tóc ấy.
Ở chiến trường thời đó làm gì có dầu gội như bây giờ. Lá bưởi, lá chanh trở thành “đặc sản” cho mỗi lần gội đầu. Mà những thứ đó có khi phải kiếm tìm mỏi mắt.
Thương quá đồng đội tôi - những cô gái nơi chiến trường khói lửa.
Châu Thành, Bình Dương 1968 - Hà Nội, cuối Đông 2011