Lòng dân
Sang ngày thứ hai, thứ ba, cả thành phố bừng bừng khí thế của những ngày Cách mạng Tháng 8/1945. Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) tại Huế đã huy động đến hàng chục bàn máy may để may cờ Mặt trận, nhưng vẫn chưa đủ để phát cho dân. Cờ Mặt trận treo khắp các cổng thành, trước cửa nhà dân và phấp phới tung bay trên nóc nhà tỉnh trưởng ngụy. Một toán thanh niên theo dẫn đường của giao liên, đã tiếp tế cơm cho bộ đội giải phóng đang chiếm giữ kỳ đài Đại Nội.
Tại trụ sở Ủy ban Mặt trận, người ra vào tấp nập, ngồi chật cả thềm nhà, đứng cả ngoài sân. Cũng là người dân, những người khu phố, nhưng hôm nay, tại trụ sở Ủy ban Mặt trận, họ gặp nhau tay bắt mặt mừng niềm nở, trò chuyện như người đi xa nay mới gặp lại. Họ kể cho nhau nghe việc dẫn bộ đội, biệt động đi bắt ác ôn, bắt bọn mật vụ, cảnh sát, bắt những tên ngụy quyền chạy trốn… Chuyện đánh nhau ở cống Thanh Long, chuyện đào hầm, lái xe chở lương thực cho bộ đội, chăm sóc anh em thương binh… Người kể rất tự hào, người nghe rất chăm chú. Họ cảm thấy lúc này làm được một việc gì cho cách mạng, cho bộ đội Giải phóng là một niềm vui lớn trong cuộc đời mình.
Một thanh niên nói như khoe với mọi người:
- Tôi vừa gặp anh Trung, trước là học sinh Quốc học và anh Thái, phụ xe cho Hãng B, nay đều là Bộ đội Giải phóng, các anh khỏe và đẹp lắm.
Giọng của một chị phụ nữ, chậm rãi như có điều gì đó hối hận:
- Ban đêm nghe tiếng súng nổ dồn dập, tiếng chân chạy, tiếng hò hét, tưởng là họ dữ lắm. Sáng ra gặp, trông anh nào cũng hiền lành, áo quần chỉnh tề, đẹp trai, dễ thương lắm.
Người đàn ông trạc 50 tuổi dứng dậy nói:
- Tôi xin báo cáo với bà con khu phố ta một tin mừng: Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình của thành phố Huế đã được thành lập, có những vị đứng đầu như Thượng tọa Thích Đôn Hậu, bà Tuần Chi, Giáo sư Lê Văn Hảo. Liên minh kêu gọi đồng bào, các lực lượng yêu nước hãy đoàn kết một lòng đứng lên cùng lực lượng võ trang cách mạng đánh Mỹ, diệt ngụy, giành quyền dân sinh, dân chủ, giành độc lập, hòa bình cho thành phố, cho đất nước.
Có một vài thanh niên tự xưng là tự vệ khu phố, nên được Ủy ban Cách mạng phát súng, về khu phố hò hét, giọng dọa nạt, lên mặt ta đây là “tự vệ Cách mạng”. Thấy vậy, một cụ già chạy tới trụ sở Ủy ban chen vào gặp đồng chí cán bộ, giọng thì thầm, vẻ thận trọng:
- Giải phóng phát súng cho thằng G và thằng P. Phải coi chừng đó. Hai thằng đó tui nghi là mật vụ, tui không tin mô.
Quả thực đêm đó, tên G và P bị tóm cổ với những tài liệu mật quan trọng. Hai khẩu súng lục loại nhỏ cùng một số tên mật vụ khác lâu nay đã từng khống chế, chỉ điểm cho bọn cảnh sát ngụy bắt một số người yêu nước của khu phố, hoặc có con em đi tham gia Quân Giải phóng, mà rất ít người biết đến.
Nhân dân tham gia cùng bộ đội Giải phóng chiếm giữ thành phố ngày càng đông, với nhiều hình thức thích hợp, rất phong phú. Có nhà ủng hộ đến bốn, năm tạ gạo, cả con heo nặng đến 60-70kg. Có người đem xe tải của mình chở lương thực, vũ khí cho bộ đội. Có những y tá, bác sỹ ủng hộ thuốc men, biến căn nhà của mình thành trạm phẫu, nơi chăm sóc thương binh suốt ngày đêm, quên cả ngày tết, quên cả súng đạn đang nổ gần đó. Các tăng ni, phật tử quên cả hiểm nguy đi đến từng nhà quyên từng cân đường, hộp sữa, từng cuộn băng, viên thuốc đem đến trạm phẫu, chăm sóc thương binh. Thật là cảm động!
Một nhà sư nói: “Mô Phật! Làm việc thiện là bổn phận của phật tử, của nhà chùa. Là tăng ni, phật tử phải làm theo lời Phật dạy”. Thượng tọa Thích Đôn Hậu cũng ra gánh việc nước, phật tử chúng tôi cũng phải góp sức mình vào chứ”.
Một bác, giọng như phân trần:
- Đêm qua nghe tiếng súng nổ, tôi tưởng cướp hay các lực lượng bảo an, dân vệ đánh nhau. Chúng tôi đóng chặt cửa không dám ra ngoài. Hôm nay, mở cửa, thấy cờ Mặt trận đầy phố, Bộ đội Giải phóng giúp dân đào hầm trú ẩn, giải thích chính sách Mặt trận, tôi bớt lo. Bây giờ tôi thấy có lỗi với anh em Giải phóng. Tôi có chiếc xe tải, quý anh cứ lấy mà dùng, tôi sẵn sàng lái xe cho quý anh.
Tiếp theo những ngày sau đó, tối đến có hàng chục xe tải, xe cứu thương, xe máy chở lương thực, thuốc men đến cửa Chánh Tây, cửa Hữu, cửa Thượng Tứ, Ngọ Môn và các đơn vị bộ đội Giải phóng chiếm giữ. Thương binh của ta được xe cứu thương đưa về trạm phẫu, có một số được các đoàn tải thương bao gồm nhân dân, thanh niên, học sinh, công nhân đưa ra ngoài thành phố lên hậu cứ. Có lẽ, hăng hái nhất, sôi nổi nhất, có tác dụng thúc đẩy nhất là sự nổi dậy tham gia cách mạng của lực lượng thanh niên, sinh viên, học sinh Huế. Ở đâu cũng có mặt họ. Họ là lực lượng tuyên truyền chính sách của MTDTGPMNVN, kêu gọi đồng bào nổi dậy, ủng hộ giúp đỡ Quân Giải phóng hiệu quả nhất. Họ là lực lượng giao liên, liên lạc, trinh sát dẫn đường cho các phân đội Quân Giải phóng đánh địch ở từng khu phố. Họ tham gia lực lượng dân công, vượt bom đạn đưa cơm và những thứ cần thiết cho bộ đội đánh địch, tải thương binh lên hậu cứ, vượt đường rừng, là công việc rất vất vả và hiểm nguy mà trước đây họ chưa hề làm. Họ cùng một số đồng bào tổ chức nấu cơm, lập những quán cơm công cộng để bộ đội, biệt động, tự vệ sau khi chiến đấu xong đến ăn và nghỉ ngơi đôi chút. Họ đến động viên bộ đội sau mỗi trận đánh, họ cũng trò chuyện cởi mở thân tình với các anh Giải phóng, với những bạn bè trước kia cùng học với mình nay trở về có mặt trong thành phố.
Sự hy sinh mãi mãi đáng được tri ân
Cuộc chiếm giữ thành phố Huế bước sang ngày thứ 19, 20 ở vào tình thế càng khó khăn, quyết liệt. Kẻ địch điều một số đơn vị quân Mỹ ở Khe Sanh - Đường 9 vào tiếp viện cho Huế, đã có mặt ở phía tây bắc. Các đơn vị chủ lực của ngụy đang tập trung ở phía đông nam. Ở Thành Nội, chúng dùng trực thăng đổ thêm quân kết hợp với xe tăng, thiết giáp phản kích quyết liệt. Bom đạn của Mỹ đã giội xuống Đại Nội, phá hủy nhiều di tích lịch sử của triều Nguyễn. Máy bay, pháo từ hạm đội 7 của địch, ở ngoài khơi, rải bom, bắn phá liên tục ở vùng giáp ranh gây thiệt hại cho ta trong việc vận chuyển lương thực, vũ khí, thương binh… Lực lượng của ta sau 20 ngày đêm chiến đấu liên tục, ác liệt, kiên cường, giữ được thành Huế, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, nhưng thiệt hại, mất mát của ta không phải là nhỏ. Sự chi viện của cấp trên về binh lực, vũ khí có hạn và gặp nhiều khó khăn. Sau một đợt chiến đấu dài ngày, sức lực của bộ đội ta có phần giảm sút. Sự phối hợp, hỗ trợ của dân, của lực lượng cách mạng địa phương tuy đã được chuẩn bị từ trước nhưng cũng có hạn… Quyết tâm của lãnh đạo, của quân dân Huế chiếm giữ thành phố, giành chính quyền về tay nhân dân, không thay đổi. Nhưng trước tình hình nhạy cảm đó, để bảo toàn lực lượng, đêm thứ 25, bộ đội ta chào tạm biệt thành Huế, trở lại hậu cứ Trường Sơn.
Sau đó địch dùng mọi lực lượng và phương tiện phản kích quyết liệt ở đồng bằng cũng như ở vùng giáp ranh, rừng núi, gây cho ta không ít khó khăn và thiệt hại. Bộ đội ta sức khỏe giảm sút, đối mặt với đói khát, bệnh tật phát sinh. Một số đơn vị chủ lực phải hành quân lên đường Hồ Chí Minh, trên đất bạn Lào để nhận được sự chi viện lương thực, vũ khí, củng cố lực lượng. Một số đơn vị bộ đội địa phương phải phân tán nhỏ lẻ trở thành các đơn vị du kích, bám trụ địa bàn, bám trụ dân nhằm củng cố lực lượng, xây dựng cơ sở. Một số người do nhận thức phiến diện, không đầy đủ về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, lại có sẵn nguyện vọng cá nhân chủ quan nôn nóng, cho đây là trận cuối cùng nên lạc quan tếu. Một số nơi trong lúc phát động quần chúng nổi dậy, đã bộc lộ hầu hết lực lượng của ta ở nội thành cũng như ở nông thôn. Khi kẻ địch phản kích, cùng với sự trả thù tàn ác của những tên ác ôn sống sót, chúng tàn sát lực lượng của ta rất dã man. Hầu hết cơ sở của ta ở nội thành, đồng bằng bị tiêu diệt. Đó là những tổn thất hết sức nặng nề, đó cũng là cái giá phải trả cho thắng lợi, tuy chúng ta không ai muốn, nhưng phải chấp nhận, nhìn thẳng vào sự thật.
Cũng chính vì lẽ đó, mà khi nói về thắng lợi và đánh giá về ý nghĩa thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, có những ý kiến khác nhau, phải bảo lưu là bình thường, cần phải được lắng nghe một cách cầu thị của người cách mạng. Nhưng có một sự thật đanh thép, hào hùng mà không một ai có thể phủ nhận được và lịch sử sau này mãi mãi ghi nhớ như một mốc son. Đó là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đồng loạt khắp miền Nam, tiến công vào các đô thị lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế… là một thắng lợi to lớn, sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Cùng với Sài Gòn - Đà Nẵng, Huế nổi lên như một điểm son sáng chói, được đồng bào cả nước tin yêu, bạn bè quốc tế ngưỡng mộ, được Bác Hồ chăm chú dõi theo và tặng tám chữ vàng: “TẤN CÔNG, NỔI DẬY, ANH DŨNG, KIÊN CƯỜNG”. Sự chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, sự hy sinh to lớn của quân dân Huế, chiếm giữ thành Huế 26 ngày đêm và vì cả miền Nam, cả nước nhằm thực hiện quyết tâm chiến lược mà Bộ Chính trị, Bác Hồ đã chỉ ra: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.
Cùng với thắng lợi của quân dân ta ở miền Bắc cũng như ở miền Nam trước đó, thắng lợi vang dội của quân dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã góp phần quan trọng, có ý nghĩa quyết định làm lung lay, đè bẹp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ đối với nước ta. Với thắng lợi đó, đã buộc chính quyền Mỹ tuyên bố xuống thang chiến tranh ở miền Bắc, chịu ngồi vào hội nghị Paris đàm phán với ta để tìm một giải pháp ngoại giao, danh dự cho việc Mỹ rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam. Từ đây, cách mạng Việt Nam mở ra một cục diện mới: vừa đánh, vừa đàm; ta có điều kiện đấu tranh chính trị và ngoại giao, tố cáo đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, kêu gọi bạn bè quốc tế, kể cả nhân dân và binh lính Mỹ, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Mở ra một cơ hội mới, ta có điều kiện để chuẩn bị lực lượng, xây dựng cơ sở vật chất, chi viện cho cách mạng Việt Nam, chuẩn bị cơ sở cho thắng lợi của chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971, chiến dịch giải phóng Quảng Trị năm 1972, mười hai ngày đêm chiến thắng Hà Nội Điện Biên Phủ trên không năm 1972, giải phóng Phước Long năm 1974 và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc ngày 30-4-1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, Tổ quốc ta thống nhất, dân tộc ta độc lập, sạch bóng kẻ thù xâm lược. Đó là ý nghĩa chiến lược của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, mà càng về sau, càng được khẳng định, càng sáng rõ