Hồi nhớ tháng Mười

Nước Nga đến với tôi thật sớm và thân thương. Năm tôi mới mươi tuổi. Nước Nga - nói cho thật đúng, Liên Xô (1917-1991) - đến với tôi không tình cờ mà như một định mệnh. Định mệnh của một cậu bé nông thôn ở một ngôi làng bình thường với chùa cổ, tre xanh, cò trắng trên đồng, như hàng trăm làng khác.

Khi tôi 6 tuổi, cha tôi, một cán bộ xã, qua đời. Trước lúc đi xa, cha gieo vào lòng tôi niềm say mê đọc sách. Mẹ thì truyền cho tôi tính thích hát. Trước đó, đêm nào cũng vậy, sau một ngày làm lụng vất vả, bè bạn của cha lại tụ tập ở nhà tôi. Các cụ nhâm nhi những chén trà nóng và đọc thơ, bình văn sôi nổi. Phạm Công Cúc Hoa, Hoàng Trừu, Lục Vân Tiên, Truyện Kiều... các cụ say sưa giao hòa với nhau trong ánh đèn dầu bập bùng và khói trà chờn vờn uốn lượn.

Tôi ngồi hóng chuyện và ngủ đi lúc nào chẳng hay. Ấn tượng đó theo đuổi tôi suốt đời. Cha mất, anh tôi thinh thoảng kể chuyện hay đọc sách cho tôi nghe, nhất là những đêm đông, hai anh em cùng nằm trong ổ rơm ấm rực...

Nicolai Rutsov.
Nicolai Rutsov.

Rồi anh phải đi học, đi công tác xa nhà. Tôi ngày cuốc bộ vài cây số đến trường, Học một buổi, buổi không đến lớp thì ra đồng làm cỏ, tát nước hoặc cắt rạ cho mẹ. Đôi khi mẹ hay người thân của cha mẹ cho ít tiền, tôi thường dành mua sách cả. Đầu tiên là bộ “Lịch sử văn học Nga - Xôviết”, 2 tập, của giáo sư Hoàng Xuân Nhị. Tiếp đến là “Sông Đông êm đềm”, 8 tập, của Mikhail Cholokhov (1905-1984), Nguyễn Thụy Ứng dịch.

Đến với tôi, sau Truyện ngắn Pu-sơ-kin và Đu-brốp-xki và “Người con gái viên đại úy” của cùng tác giả Aleksandr Pushkin (1799-1837), là “Một anh hùng thời đại” của Mikhail Lermontov (1814-1841). Phép màu số phận, đất nước xa xôi kia gửi tiếp cho tôi những món quà quý báu, “Thép đã tôi thế đấy” của Nikolai Ostrovsky (1904-1936), Truyện ngắn và kịch “Chim hải âu”, “Cậu Va-ni-a”, “Vườn anh đào” của Anton Tchékhov (1860-1904)..., đặc biệt là “Chiến tranh và hòa bình”, “An-na Ka-tê-ra-ni-na”, “Phục sinh” của Lev Tolstoy kỳ vĩ (1828-1910)... Chưa kể “Ta-rát Bun-ba” của Nicolas Gogol (1809-1852), “Cha và con” của Ivan Tourguéniev (1818-1883) hoặc “Bông hồng vàng” của Konstantin Paoustovski (1892-1968)...

Đã hẳn, tôi đọc nhiều sách của Việt Nam và nhiều nước khác nữa. Nhưng bấy giờ sách Liên Xô nhiều nhất và hấp dẫn tôi hơn cả. Cũng vậy, âm nhạc, múa và  phim ảnh Liên Xô luôn là số một. “Bài ca thanh niên sôi nổi”, “Ka-chiu-sa”, “Cây bạch dương”, “Chiều Mạc Tư Khoa”... được hát khắp nơi và tôi cũng thuộc, cũng hát cùng các anh chị hay bạn bè. Chúng tha thiết và hút hồn chẳng kém gì những khúc dân ca quan họ hay những điệu chèo cổ.

Tôi thật sự hạnh phúc mỗi lần ra sân bãi xem phim Liên Xô. Bãi trống, sân đình, sân trường... thời ấy thân thương lắm. Năm bữa nửa tháng, chúng lại sáng đèn, chủ yếu là đèn điện, thi thoảng đèn măng-sông lớn, bà con xóm làng, cả các làng lân cận, lũ lượt kéo đến, thưởng thức tuồng, chèo. Và nhất là phim, mới lạ, cuốn hút, không cưỡng được. “Bài ca người lính”, “Người thứ bốn mốt”, “Khi đàn sếu bay qua”, “Tiểu thư Mê-ri”, “Con đường đau khổ”, “Phục sinh”, “Số phận con người”, “Đất vỡ hoang”..., tôi cứ mê đi khi xem những bộ phim ấy.

Tượng Alexandre Pouchkine.
Tượng Alexandre Pouchkine.

Tôi vẫn chỉ loanh quanh ăn học ở làng, ở huyện, ở tỉnh quê nhưng như được mời đi du lịch khắp nơi trên đất nước Xôviết mà tôi càng ngày càng thấy tươi đẹp, thân thương, gần gũi như trường mình, đồng ruộng và làng xóm mình. Những tác phẩm văn nghệ đó mở ra cho đứa nhỏ thôn quê nghèo một thế giới quen thuộc mà mới mẻ, thức tỉnh nhiều cảm xúc và suy nghĩ.

Những cảm xúc và suy nghĩ đó là những hạt giống tâm hồn, được nuôi dưỡng từ thực tế xa xôi kia. Những hạt giống đó sẽ nảy sinh và phát triển thành những phẩm chất không thể thiếu trong tâm hồn. Đến lượt chúng, những phẩm chất này được thực tế quê nhà vun xới liên tục...

Những phẩm chất ấy giúp tôi dần dần hiểu thấu xã hội và cuộc đời. Hóa ra, ở đâu cũng vậy, đa phần người thường đều tốt bụng, chịu thương chịu khó. Họ làm nên tất cả, mang lại tất cả. Văn hóa chính là họ. Văn nghệ khởi nguồn từ họ và quay lại ca ngợi họ, đấu tranh đòi cho họ quyền được sống và được tôn trọng, đúng như tấm lòng và công lao của họ.

Có những bộ phim khiến bao người rơi lệ. Chẳng hạn như “Khi đàn sếu bay qua”, 1957. Bộ phim giành Cành cọ vàng năm 1958 tại Liên hoan phim Cannes. Đây là Cành cọ vàng gần như duy nhất của điện ảnh Liên Xô cũ. Nó là một trong 3 phim Cành cọ vàng được xem nhiều nhất. Riêng ở Pháp là gần 6 triệu lượt khán giả.

Những năm xa xôi ấy, tôi đã thích nhiều vài hát Nga - Liên Xô. Có những câu ca cứ trở đi trở lại mãi trong lòng. Một phần có lẽ vì người hát là một cựu chiến binh chống Pháp. Anh vừa đàn ghi-ta, vừa hát thật ấm tình: “Giờ này anh ở đâu, hỡi người bạn cũ cùng binh đoàn/ Đã dấn bước cùng nhau bao dặm đường xa/ Nếu giờ này bạn hiền còn thiếu một gia đình/ Xin bạn đừng ngại ngần về xóm thôn tôi/ Miền đồng quê phì nhiêu, nông trường lời hát hòa êm đềm/ Có nhiều cô đẹp như khúc ca ban chiều”.

Dạo ấy, tôi thường đọc lại, từng đoạn, từng chương, từng phần, bộ “Văn học Nga Xôviết” của Hoàng Xuân Nhị. Bộ sách là cẩm nang cho tôi khám phá nền văn học hàng đầu của nhân loại. Nền văn học mà đạo đức và đạo lý hừng hực như lò than khổng lồ, thiêu đốt và sưởi ấm, truyền sức mạnh Phù Đổng. Tôi đặc biệt xúc động trước cuộc đời bi thảm và tác phẩm cao sang hiếm thấy của Alexandre Pouchkine.

Tôi vẫn nhớ (nhưng quên tên tác giả): “Hỏi ai là nhà văn Nga lớn nhất, người ta sẽ phân vân giữa Tôn-stôi và Đốt-stôi-i-ép-ski. Nhưng hỏi ai là biểu tượng của tâm hồn Nga, mọi người nhất trí tức thì: Pu-sơ-kin”. Một thời gian dài, tôi cho ông là thi sĩ hay nhất của nhân loại. Chưa ai bày tỏ tự nhiên đến thế, như tâm sự thông thường, đúng luật tâm hồn và đúng luật nghệ thuật, chấn động tuyệt đỉnh, những tâm trạng điển hình và không có tuổi.

Đến nay, tôi vẫn nhớ của ông, từ sách của Hoàng Xuân Nhị, ví như áng thơ sau: “Cuộc vui đã tắt của những năm điên cuồng/ Như một dư âm khó chịu đè nặng tôi/ Vì như rượu hồ đào, nỗi buồn quá khứ/ Càng lâu năm càng trỗi sức sống/ Đường tôi đi ảm đạm, biển toan nổi sóng/ Báo cho tôi những sầu và khổ/ Nhưng hỡi các bạn, tôi chẳng muốn chết đâu/ Tôi muốn sống để suy nghĩ để thương đau/ Vì tôi biết thế nào cũng có khoái lạc/ Giữa đau buồn, lo âu cảnh sống rộn ràng/ Rồi tôi lại đắm say giai điệu/ Lại rơi lệ trong cơn tùy hứng/ Và có thể vào buổi suy tàn/ Tình yêu sẽ sáng rực nụ cười vĩnh biệt”.

Maxime Gorki (1868-1936) là đại biểu của các văn nghệ sĩ xuất thân dân thường nghèo khổ. Tôi sửng sốt trước một chi tiết trong “Những trường đại học của tôi” của ông: đang đọc một truyện ngắn của văn hào Pháp Gustave Flaubert (1821-1880), ông soi trang sách lên, để xem trong ấy có phép màu nào khiến ông xúc động run lên đến vậy.

Mikhail Sholokhov.
Mikhail Sholokhov.

“Thép đã tôi thế đấy” của Nikolai Ostrovsky, tiêu biểu cho các tầng lớp thanh niên trưởng thành sau Cách mạng Tháng Mười, là sách gối đầu giường của nhiều thế hệ người Việt. Đã và đang đi vào sổ tay của nhiều, rất nhiều bạn trẻ câu châm ngôn đẹp bậc nhất này: “Cái quý nhất của con người là sự sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay, có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức lực của ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp tốt đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân loại”.

Vươn tới tâm niệm sống như thế là đã tìm thấy bí quyết của hạnh phúc, như Lev Tolstoy mong mỏi: Sự thanh thản của tâm hồn. Với các văn nghệ sĩ, thanh thản đó được thể hiện chí lý qua câu nói bât hủ của Mikhail Sholokhov, biểu tượng mới của văn nghệ sĩ nhân dân lao động: “Người ta cứ bảo tôi viết theo chỉ thị của Đảng. Sự thật, tôi chỉ viết theo chỉ thị của trái tim mình. Có điều, trái tim tôi thuộc về Đảng thân yêu mà tôi nguyện suốt đời phụng sự”.

Ngừng học vì chiến tranh, ông tham gia nội chiến, khi mới 15 tuổi. Sau chiến tranh, ở tuổi 17, ông lên thủ đô Moscow, lăn lộn với nhiều nghề, phu khuân vác bến tàu xe, thợ xây dựng, kế toán. Vừa kiếm sống vừa viết văn.

Năm 19 tuổi, ông về làng quê, lấy vợ và hiến mình cho văn học. Năm 20 tuổi, xuất bản tác phẩm đầu tay. Năm 23 tuổi, công bố tập I bộ “Sông Đông êm đềm”. Ngay sau đó là tập II. “Một con đại bàng non bất thần vẫy lên đôi cánh mênh mông”, ấy là lời đánh giá kiêu hãnh, thốt lên giữa cơn bão dư luận trái chiều, của văn hào Alexis Tolstoy (1883-1945), tác giả bộ tiểu thuyết lớn “Con đường đau khổ”.

Xin mở một ngoặc đơn thú vị, việc trình làng của bộ tiểu tuyết 3 tập này còn bền bỉ hơn “Sông Đông êm đềm”, từ 1922 tới 1941. Tôi cũng bị nó và bộ phim cùng tên hút hồn. Trong tôi thường vang lên những câu những đoạn của nó, đại để: “Năm tháng sẽ qua đi. Các cuộc chiến tranh sẽ kết thúc. Các cuộc cách mạng sẽ thôi gầm thét. Những còn lại mãi với anh mối tình dịu dàng và tha thiết của em”...

Cơn bão khiến cho sự xuất hiện của tập III “Sông Đông êm đềm” gặp trục trặc. Mãi năm 1933, nhờ can thiệp trực tiếp của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, nó mới được ra mắt. 7 năm sau là tập cuối cùng. Tới nay, riêng ở Nga, bộ sách tiêu thụ được trên 5 triệu bản. Nó được dịch ra 50 ngôn ngữ. 2 lần được dựng thành phim. Nó góp phần đắc lực để Sholokhov được trao Nobel Văn học 1965, một cách chững chạc, đúng với ý tưởng của Alfred Nobel, người sáng lập giải. Tôi hồi hộp đọc nó trong khoảng 2 năm, theo sự ra đời của từng tập bản dịch. Đến nay, nhiều đoạn nhiều câu trong đó vẫn ám ảnh tôi, như những câu thơ xuất thần.

Nhà văn Lev Tolstoy và Maxime Gorki.
Nhà văn Lev Tolstoy và Maxime Gorki.

Từ năm 1929, bộ tiểu thuyết bị nghi vấn về bản quyền. Không ít người, trong đó có các nhà phê bình, như Roy Medvedev, hay các nhà văn như Alexandre Soljenitsyne (1918-2008), Nobel Văn học 1970, không sao tin nổi rằng một chàng trai nông thôn ít học, quá trẻ, chưa mấy trải đời, có thể xây dựng được một kiệt tác đầy chất thơ và thâm trầm tới vậy. Họ cho rằng đó là tác phẩm của Fiodor Krioulov, nhà văn Cô-dắc chết vì bệnh thương hàn năm 1920.

Mối nghi hoặc bất công đó tới năm 1991 mới được giải tỏa. Năm ấy, nhà báo Lev Kozloduy tìm được bản thảo viết tay cùng nhiều tài liệu làm việc liên quan. Các thẩm định khoa học chứng minh rằng đó là của Sholokhov. Bản thảo và các văn bản ấy hóa ra ở nhà Vassili Kovachev, bạn của Sholokhov, mất tích năm 1941, ở mặt trận phía Tây...

Uy tín và sự ngưỡng mộ Sholokhov cả trong lẫn ngoài nước tăng lên gấp bội. Cảm nhận lịch sử và đời sống của ông tỏ ra sâu sắc và chính xác đến bất ngờ. Qua ông, chúng ta càng thấy rõ: “Nền văn hóa nào cũng nằm trong trái tim và khối óc của Nhân Dân” (Gandi). “Sông Đông êm đềm” được sánh với “Chiến tranh và hòa bình”. Không có cuộc nội chiến - hồng quân và bạch quân, cách mạng và phản cách mạng - thì chắc chắn không có bộ tiểu thuyết gây kinh ngạc đến vậy.

Lần đầu tiên, Nhân Dân được xưng tụng chuẩn xác, với bản chất thuần khiết, lương thiện, bao dung, bất chấp không ít tì vết. Bi kịch của Grigori, nhân vật “công chúng” kỳ vĩ, cho thấy thân phận Nhân Dân vẫn là cốt lõi của tiến trình lịch sử. Thực tế gần một thế kỷ qua minh chứng sự thật này.

Một trong những nét hấp dẫn của “Sông Đông êm đềm” là việc miêu tả thiên nhiên mĩ lệ vô cùng chân thật. Trong đó, có mùa đông Nga, bạn đường của nhiều cây bút Nga lừng lẫy. “Xuyên những làn sương gợn sóng/ Mảnh trăng mờ ảo chiếu qua/ Buồn rải ánh vàng lai láng/ Lên cánh đồng buồn giăng xa/ Không một mái lều ánh lửa/ Tuyết trắng và rừng bao la/ Chỉ những cột dài cây số/ Bên đường sừng sững chào ta...”. Kế tục xứng đáng “Con đường mùa đông” này của Pouchkine, “Sao đồng quê” của Nicolai Rubtsov (1936-1971) - “đồ đệ” số một của Sergei Esenin (1895-1925), “linh hồn của cánh đồng Nga” - là biểu tượng của tâm hồn Nhân Dân Nga, biểu tượng của mọi biểu tượng - khiến ta xao xuyến mãi trong kiêu hãnh và vững lòng.

Đàm Nhi Linh

Các tin khác

Khí đốt đắt đỏ, nhu cầu than toàn cầu có thể lập kỷ lục mới

Khí đốt đắt đỏ, nhu cầu than toàn cầu có thể lập kỷ lục mới

Gián đoạn vận chuyển LNG qua eo biển Hormuz đã đẩy giá khí đốt lên cao, khiến nhiều nền kinh tế chuyển một phần sản lượng điện từ khí sang than. Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cảnh báo nhu cầu than toàn cầu có thể tiếp tục tăng nếu nguồn cung khí chưa sớm phục hồi.

Từ “Hoàng hậu cuối cùng” đến bài toán quyền tài sản trí tuệ

Từ “Hoàng hậu cuối cùng” đến bài toán quyền tài sản trí tuệ

Tranh cãi quanh những tác phẩm khai thác chất liệu lịch sử đặt ra câu hỏi về chủ thể quyền đối với tài sản trí tuệ. Khi dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa lần đầu gọi tên tài sản trí tuệ gốc, việc xác định rõ các lớp quyền và chủ thể sở hữu càng trở nên cấp thiết.

Văn hóa truyền thống không chỉ là đạo cụ sân khấu

Văn hóa truyền thống không chỉ là đạo cụ sân khấu

Trong những năm qua, xu hướng dùng chất liệu truyền thống trong những sáng tạo đương đại đang trở nên phổ biến. Những vở ballet “Dó”, “Đông Hồ”, xiếc “Làng tôi” hay mới đây là “Những lớp phù sa” đang cho thấy nỗ lực của các nghệ sĩ tìm về những chất liệu văn hóa truyền thống để kể những câu chuyện hôm nay. Nhưng giữa việc “đưa văn hóa lên sân khấu” và sự “sáng tạo từ văn hóa” vẫn là một khoảng cách. Bởi nếu truyền thống chỉ dừng lại ở những chiếc nón, cái nơm, tấm chiếu, câu hát dân gian hay bộ trang phục đẹp mắt, văn hóa rất dễ trở thành một thứ đạo cụ trang trí.

Chuyển hóa địa bàn phức tạp về xuất, nhập cảnh trái phép ở Tây Ninh

Chuyển hóa địa bàn phức tạp về xuất, nhập cảnh trái phép ở Tây Ninh

Với mạng lưới giao thông thuận lợi di chuyển đến các trung tâm kinh tế lớn ở khu vực phía Nam, biên giới tỉnh Tây Ninh luôn là địa bàn mà các loại hình tội phạm thường nhắm đến để hoạt động, trong đó có vấn đề xuất, nhập cảnh trái phép. Nhằm đảm bảo an ninh trật tự trên toàn tuyến, đồng thời phát hiện, ngăn chặn sớm các đối tượng vi phạm, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh đã phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ, Công an các xã, Bộ đội Biên phòng, triển khai cao điểm phòng, chống tội phạm…

Tái diễn chiêu lừa “buôn thần bán lộc”

Tái diễn chiêu lừa “buôn thần bán lộc”

Các thầy bà tự xưng là “người bề trên”, có khả năng biết trước kết quả xổ số, lô đề, đánh vào niềm tin tâm linh, ham trúng số, muốn làm giàu của nhiều người. Bằng chiêu thức gửi “lộc” chỉ vài chục ngàn đến vài trăm ngàn, khi tâm lý người tham gia không muốn đòi lại hoặc không dám đòi nên các nhóm đối tượng này mặc sức hưởng lợi từ hàng ngàn nạn nhân…

Đoàn Thể thao Việt Nam dồn lực cho Asiad 20: Sẵn sàng xung trận

Đoàn Thể thao Việt Nam dồn lực cho Asiad 20: Sẵn sàng xung trận

Bước vào những ngày đầu tháng 9/2026, chiến dịch chuẩn bị cho Asiad 20 tại Aichi - Nagoya (Nhật Bản) của Đoàn Thể thao Việt Nam (TTVN) đã chính thức bước sang giai đoạn hoàn tất các khâu then chốt cuối cùng. Với quyết định thành lập quy tụ 498 thành viên tranh tài ở 29 môn thi đấu, thể thao nước nhà đang thể hiện quyết tâm cao độ nhằm hiện thực hóa mục tiêu đoạt từ 4 đến 6 HCV. Từ các chuyến tập huấn nước ngoài của những đội tuyển mũi nhọn, các gói thưởng kỷ lục được kích hoạt, cho đến công tác hậu cần và y tế, tất cả đã sẵn sàng trước giờ xuất trận.

Mất tiền oan với ứng dụng “dùng thử miễn phí”

Mất tiền oan với ứng dụng “dùng thử miễn phí”

Giữa hàng loạt ứng dụng mời trải nghiệm miễn phí, người dùng có thể kích hoạt một ứng dụng chỉ sau vài thao tác. Tuy nhiên, khi thời hạn dùng thử kết thúc, hệ thống tự động chuyển sang trả phí, thậm chí thu tiền cả năm nếu khách hàng không kịp hủy.

Khi người trẻ kể chuyện văn hóa, lịch sử trên không gian mạng

Khi người trẻ kể chuyện văn hóa, lịch sử trên không gian mạng

Văn hóa, lịch sử không còn chỉ nằm trong sách giáo khoa, những trang tư liệu hay không gian bảo tàng. Trên TikTok, Facebook, Instagram, YouTube... người trẻ đang kể câu chuyện của cha ông bằng video ngắn, tranh vẽ, thời trang, âm nhạc và công nghệ số. Cách kể mới đang giúp di sản đến gần hơn với công chúng trẻ. Nhưng khi một video có thể lan truyền tới hàng trăm nghìn người chỉ trong thời gian ngắn, câu hỏi đặt ra là: làm thế nào để sáng tạo mà không làm sai lệch những giá trị văn hóa đã được trao truyền qua nhiều thế hệ?

Căng thẳng thuế quan Mỹ - Canada

Căng thẳng thuế quan Mỹ - Canada

Dù ông Trump tuyên bố Mỹ "không cần Canada", thực tế Washington đang mua phần lớn dầu thô, khí đốt, điện cùng nhiều nguyên liệu công nghiệp sống còn từ quốc gia láng giềng.

Giá xăng, dầu đang hình thành một “bình thường mới”

Giá xăng, dầu đang hình thành một “bình thường mới”

Sau 6 tháng xung đột Trung Đông, giá dầu và xăng vẫn neo cao nhưng thị trường đang dần hình thành một "bình thường mới". Dù Mỹ nỗ lực mở rộng nguồn cung qua thỏa thuận với Venezuela, giá nhiên liệu vẫn khó hạ nhiệt trong ngắn hạn.

Golden Oldies - Lễ hội tái hiện ký ức

Golden Oldies - Lễ hội tái hiện ký ức

Ra đời từ năm 1989 từ ý tưởng của cộng đồng địa phương nhằm đưa du khách trở về với bầu không khí "vàng" của các thập niên từ 1950 - 1980, lễ hội Golden Oldies được tổ chức vào ngày cuối tuần cuối cùng của tháng 7 hàng năm tại làng Krofdorf-Gleiberg, thị trấn Wettenberg, tiểu bang Hessen - Đức. Kết hợp giữa âm nhạc, xe cơ giới và thời trang vintage, Golden Oldies đã trở thành một trong những lễ hội văn hóa hoài niệm lớn nhất nước Đức, thu hút mỗi năm khoảng 60.000 - 70.000 lượt du khách.

Asiad 20 và “Chiến dịch săn vàng” của đoàn Việt Nam

Asiad 20 và “Chiến dịch săn vàng” của đoàn Việt Nam

Chỉ còn ít tuần nữa, Đại hội Thể thao châu Á lần thứ 20 (Asiad 20) sẽ chính thức khởi tranh tại Aichi - Nagoya (Nhật Bản). Thời điểm này, không khí tập luyện tại các trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia đang bước vào giai đoạn "nước rút" khốc liệt nhất. Với mục tiêu phấn đấu giành từ 4 - 6 HCV, Đoàn Thể thao Việt Nam (TTVN) đang dồn toàn lực, kích hoạt chế độ "cắm trại săn vàng" cho các đội tuyển trọng điểm.

Một thoáng Milan

Một thoáng Milan

Được coi là trung tâm quan trọng của thời trang châu Âu, cái nôi của Opera và đô thị kinh tế của nước Ý, Milan trên thực tế còn là một trong những thành phố đẹp nhất nước Ý. Ẩm thực đa dạng và cuộc sống nhộn nhịp, Milan là sự hòa quyện giữa cuộc sống hiện đại phồn thịnh với vô vàn di tích lịch sử tráng lệ. Sự tiên phong nghệ thuật độc đáo và bảo tồn truyền thống cổ điển đã đem đến cho Milan một vẻ quyến rũ mê hoặc.

Mỹ phát động “chiến tranh kinh tế” chống Iran

Mỹ phát động “chiến tranh kinh tế” chống Iran

Ngày 24/8, chính quyền Mỹ đã công bố chiến dịch “chiến tranh kinh tế” hủy diệt do Tổng thống Donald Trump phát động nhằm đối phó với Iran. Chiến dịch này đang được giới quan sát quốc tế theo dõi xem liệu ông Trump có thật sự thực hiện đúng như những gì tuyên bố hay không, khi những cái giá phải trả về mặt chính trị ngày càng tăng.

Biến bản sắc thành động lực kinh tế

Biến bản sắc thành động lực kinh tế

Trong bối cảnh toàn cầu hóa đòi hỏi Việt Nam vừa bảo tồn bản sắc vừa tạo động lực tăng trưởng mới, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang mở ra hành lang pháp lý đồng bộ nhằm chuyển hóa giá trị văn hóa thành tài sản trí tuệ và nguồn lực kinh tế. Mục tiêu của dự thảo không dừng ở quản lý mà hướng tới kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo hoàn chỉnh, nơi truyền thống được phát huy thành giá trị thương mại bền vững.

Để sân khấu thực cảnh đậm chất văn hóa, thu hút khách du lịch

Để sân khấu thực cảnh đậm chất văn hóa, thu hút khách du lịch

Những năm gần đây, sân khấu thực cảnh ở Việt Nam đang nở rộ. Khởi đầu từ “Tinh hoa Bắc Bộ” năm 2017 đến nay, chúng ta có thêm những vở như “Ký ức Hội An”, “Tinh hoa Việt Nam”, “Vũ điệu trên mây”, “Chuyện tình Bản Giốc”, “Dòng sông kể chuyện”, “Huyền tích U Va”… và mới đây là “Đất nước thiên hùng ca” cho thấy một xu hướng: lịch sử, truyền thuyết, cảnh quan và di sản đang được kể lại bằng ngôn ngữ của sân khấu hiện đại.

Số hóa an ninh - vì bình yên Đất Mũi

Số hóa an ninh - vì bình yên Đất Mũi

Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ, tỉnh Cà Mau không chỉ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào cải cách hành chính hay phát triển kinh tế, mà còn chủ động đưa công nghệ vào công tác bảo đảm an ninh trật tự ở cơ sở. Việc thành lập, duy trì các mô hình như “Cổng an ninh trật tự thông minh” tại xã Phong Hiệp; “An ninh trật tự xã hội thông minh” tại xã Tân Hưng hay hệ thống “Camera an ninh trật tự” tại hầu hết các xã, phường trên địa bàn tỉnh đã mang lại bước ngoặt lớn, trở thành “Lá chắn công nghệ” thay đổi căn bản phương thức quản trị địa bàn và huy động sức mạnh lòng dân, giữ gìn sự bình yên cho xóm làng nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc.

Vẫn chưa thể vực dậy đồng yen

Vẫn chưa thể vực dậy đồng yen

Hàng trăm tỷ USD được tung ra để hỗ trợ đồng yen, nhưng chênh lệch lãi suất, gánh nợ công và sức hút của tài sản Mỹ tiếp tục bào mòn hiệu quả can thiệp.