Trung tướng Nguyễn Hữu Có, nguyên Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng trong chính quyền Sài Gòn:

Hòa giải là hơn

Trưa ngày 3/7 tại thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Hữu Có, nguyên Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa, Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng hòa với hàm trung tướng trong những năm 1965-1967, đã qua đời tại nhà riêng sau 6 năm chống chọi với căn bệnh tiểu đường. Ông là một trong những quan chức của chính quyền Sài Gòn cũ sau ngày 30-4-1975 đã tìm được vị trí của mình trong chế độ mới và góp phần vào công cuộc hòa giải dân tộc.

Một thời không yên

Ông Nguyễn Hữu Có sinh năm 1925, quê ở Mỹ Tho (Tiền Giang). Do những điều kiện chủ quan của thành phần xuất thân, năm 14 tuổi, ông đã  được gia đình cho tham gia vào lực lượng thiếu sinh quân Đông Dương  do chính quyền thực dân đỡ đầu. Tháng 4/1946, Nguyễn Hữu Có đã gia nhập quân đội Pháp và được trao quân hàm trung úy.

Sau Hiệp định Geneva, Nguyễn Hữu Có từng được giao nhiệm vụ chỉ huy điều quân vào các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi tiếp thu những vùng đất mà quân cách mạng đã rút ra miền Bắc. Khi cái gọi là Quân lực Việt Nam Cộng hòa thành lập ở miền Nam Việt Nam, ông  được giao làm Liên đoàn trưởng Liên đoàn 33 và tiếp tục giữ hàm trung tá… Sau đó, ông được chính quyền Ngô Đình Diệm chọn vào nhóm 10 sĩ quan giàu triển vọng sang Mỹ tu nghiệp về công tác chỉ huy và tham mưu. Về nước, ông làm Tư lệnh Sư đoàn 31…

Tháng 11/1963, Nguyễn Hữu Có, lúc này đang là đại tá, giữ chức Tư lệnh Phân liên khu miền Đông (Quân khu 1), đã tham gia vào nhóm nòng cốt các sĩ quan cao cấp của quân đội Sài Gòn tiến hành đảo chính lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Trong số các sĩ quan đó còn có hai trung tướng là Dương Văn Minh và Trần Văn Đôn, các thiếu tướng Trần Thiện Khiêm, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim, Trần Văn Minh, Phạm Xuân Chiểu, Lê Văn Nghiêm cùng các đại tá Nguyễn Văn Thiệu, Đỗ Mậu, Dương Ngọc Lắm, Nguyễn Văn Quan, Trần Ngọc Huyến, Nguyễn Khương, Đỗ Cao Trí… Những đóng góp khá mạnh mẽ của ông đã giúp ông được thăng lên quân hàm thiếu tướng sau khi đảo chính thành công và Ủy viên Hội đồng Quân nhân cách mạng, Tư lệnh Sư đoàn 7.

Phải nói là trong giai đoạn này, Nguyễn Hữu Có đã rất nhanh nhạy nhận diện những mâu thuẫn nội bộ của các chiến hữu đồng ngũ và chọn đúng “cửa chơi” nên đã duy trì được vị trí của mình giữa mớ bòng bong những biến động đầy toan tính trên chính trường Sài Gòn. Ông đã mau lẹ tham gia cuộc chỉnh lý của tướng Nguyễn Khánh một cách ngoạn mục nên được thăng lên Phó tư lệnh Quân đoàn IV, rồi Tư lệnh Quân đoàn II. Tiếp theo, ông đã kịp thời rời bỏ phe Nguyễn Khánh để đứng về phía nhóm tướng trẻ, những người mạnh tay cướp lấy quyền lực để phân chia lại bổng lộc từ sự giúp đỡ của Washington cho chiến tranh. Và ông đã trở thành nhân vật có quyền lực thứ ba trong bộ máy chính quyền mới, chỉ sau tướng Nguyễn Văn Thiệu, lúc này đã lên nắm vị trí Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo quốc gia và tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ vừa ngồi vào ghế Chủ tịch Ủy ban Hành pháp quốc gia. Chính ở thời điểm đó, Nguyễn Hữu Có đã được giữ vị trí cao nhất mà ông có trong quân đội Sài Gòn: Tổng trưởng Quốc phòng kiêm Phó Thủ tướng… Tháng 11/1965, ông được thăng quân hàm trung tướng.

Trong phúc có họa, chính vai trò rất nổi bật của Nguyễn Hữu Có trong lực lượng vũ trang của chính thể Việt Nam Cộng hòa lại khiến ông trở thành đối tượng cần phải dè chừng nhất trong con mắt của Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ. Những kẻ nhiều tham vọng này không bao giờ muốn có những nhân vật khả dĩ cạnh tranh với họ trong ván bài quyền lực. Sau này, ông nhớ lại: “Chính sự thăng tiến nhanh và uy tín cao trong hàng ngũ quân đội ấy của tôi đã không nhận được sự cổ vũ, thậm chí còn gây lo ngại cho chính quyền ông Thiệu. Cũng chính vì lẽ đó mà đời binh nghiệp của tôi đã phải rẽ ngang, “ba chìm, bảy nổi” ở nước ngoài…”.

Hòa giải là hơn ảnh 1
Ông Nguyễn Hữu Có.

Ra đi là ngã

Năm 1967, Nguyễn Hữu Có đã bị sa vào bẫy “điệu hổ ly sơn” khi thực hiện chuyến công du sang Đài Loan. Sau này, ông nhớ lại: “Với địa vị Phó Thủ tướng chính phủ, kiêm Tổng trưởng Quốc phòng, tôi được hai tướng Thiệu, Kỳ yêu cầu tôi đi Đài Loan với tư cách đại diện Quân đội và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa để cảm ơn Tổng thống Tưởng Giới Thạch và chính phủ Đài Loan về những sự giúp đỡ quân sự, ngoại giao… Tôi được đón tiếp như một thượng khách với các nghi lễ đầy đủ. Báo chí Đài Loan cũng đề cao ca tụng tôi. Cuộc công du đang diễn ra tốt đẹp thì đến ngày thứ ba, bất trắc đã xảy ra cho tôi. Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Đài Loan là tướng Trần Thiện Khiêm và Đại sứ Trung Hoa Quốc gia tại Việt Nam là Hồ Liên xin đến gặp tôi tại khách sạn ban đêm để trao cho tôi bản tin nhận được từ Sài Gòn. Tôi bị Hội đồng Quân lực xét xử và cách chức Phó Thủ tướng và Tổng trưởng Quốc phòng, đồng thời bị giải ngũ khỏi quân đội. Tôi hơi bàng hoàng vì trước ngày tôi lên đường, mọi việc có vẻ bình thường. Tôi lấy lại bình tĩnh và nhận định đây là một âm mưu gạt tôi ra nước ngoài để loại tôi ra khỏi chính quyền. Hôm sau tướng Nguyễn Văn Thiệu gửi điện văn qua yêu cầu tôi sau khi chấm dứt công tác ở Đài Loan, tiếp tục dẫn phái đoàn đi thăm Đại Hàn. Tôi liên lạc điện thoại về Sài Gòn nói chuyện trực tiếp với tướng Thiệu. Tôi trình bày rằng, tôi không thể đi Đại Hàn được vì các anh đã “cách chức tôi”, hơn nữa cuộc công du nầy chưa chuẩn bị. Thiệu cố ý ép tôi đi Đại Hàn với dụng ý đưa tôi đi xa để khỏi trở về nước. Nhưng tôi xin được đến Hong Kong tị nạn chính trị. Cuối cùng Thiệu ưng thuận…”.

Mãi tới năm 1970, khi Nguyễn Văn Thiệu đã củng cố được vững chãi vị trí của y rồi thì y mới đồng ý để cho Nguyễn Hữu Có trở lại Sài Gòn. Biết thân biết phận, sau khi hồi hương, Nguyễn Hữu Có đã chủ yếu dồn sức cho các hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng… Ông từng giữ chức Phó tổng giám đốc Tín Nghĩa Ngân Hàng trong những năm 1971-1973.

Tuy nhiên, không phải vì quá lo sợ mà Nguyễn Hữu Có lại quên những hoạt động chính trị quen thuộc. Ấp ủ trong lòng những khúc mắc với Nguyễn Văn Thiệu, ông đã nhận lời tham gia lực lượng thứ ba do tướng Dương Văn Minh (từng là thù địch với ông trong quá khứ) chủ trì…

Năm 1975, trong những ngày hấp hối của chế độ Sài Gòn, khi tướng Dương Văn Minh ra nhận làm Tổng thống, Nguyễn Hữu Có đã được cử giữ chức cố vấn quân sự chiều ngày 29-4 giúp cho Trung tướng Vĩnh Lộc, vừa được chỉ định làm Tổng tham mưu trưởng lâm thời. Nguyễn Hữu Có cũng là một trong hai viên tướng (người kia là Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh) còn ở lại bên cạnh Tổng thống Dương Văn Minh cho tới phút cuối cùng của chế độ Sài Gòn.

An phận bình yên

Cũng như nhiều sĩ quan cao cấp khác của chế độ Sài Gòn, sau năm 1975, Nguyễn Hữu Có từng phải đi cải tạo một thời gian. Và ông đã gia nhập đạo Tin Lành…

Trở lại thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Hữu Có đã có những năm tháng yên bình nhất trong cuộc đời bên cạnh vợ và con cháu. Với tư cách nhân sĩ tự do, ông được mời làm ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong các phát biểu của mình, ông luôn nhấn mạnh rằng, hòa hợp dân tộc là một nhu cầu thiết yếu của đất nước và dân tộc Việt Nam. Hòa hợp dân tộc phải được thể hiện lâu dài và liên tục ở trong cũng như ngoài nước để toàn thể nhân dân Việt Nam cùng nhau xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh… Ông từng kể rằng, trong một lần ra Hà Nội, được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng đã cầm tay ông nói rất thân tình: “Ta với mi lúc trước hai đứa hai chiến tuyến nhưng nay chúng ta đã là hai anh em”…

Khi còn sống, trong một lần trả lời phỏng vấn, ông Nguyễn Hữu Có tâm sự: “Không có ai cản trở gì đến cuộc sống của chúng tôi. Chúng tôi có tới 12 người con, hiện các con tôi đã lập gia đình, có con cháu và các cháu cùng sống với chúng tôi. Các con tôi tuy làm những công việc khác nhau, nhưng đủ sống, có cháu còn khá giả…”.

Trong căn nhà không quá  rộng rãi của gia  đình ông Nguyễn Hữu Có  nằm ở khu dân cư An Thạnh Phú, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, trong nhiều năm liền đã có một góc sân nhỏ dành cho con gái ông, chị Ngọc Thu đứng ra tổ chức bếp ăn tình thương, giúp đỡ các bệnh nhân nghèo tại Bệnh viện Nhi đồng 1 và Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch… Cứ vào thứ 6 hằng tuần, bếp ăn tình thương của chị Thu lại nấu khoảng 400 suất cơm và 500 suất cháo, tiếp tế miễn phí cho thân nhân gia đình các bệnh nhân nghèo…

Phạm Lành

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?