Hồ sơ tấn thảm kịch Ranger

Ngày 15/2/1982, giàn khoan Ranger được xem là “thành phố nổi trên biển lớn nhất thế giới” đã bị lật rồi chìm bởi một con sóng cao 20m, giết chết toàn bộ 84 thành viên trên giàn. Các cuộc điều tra sau đó đã cho thấy những sai sót trong thiết kế, thi công là nguồn gốc dẫn đến thảm họa...

Diễn tiến thảm kịch

Sở hữu bởi Công ty Ocean Drilling & Exploration Company Inc, trụ sở tại thành phố New Orleans, bang Mississpi, Mỹ, và do Tập đoàn Mitsubishi Heavy Industries ở Hiroshima, Nhật Bản, thiết kế, thi công, giàn khoan Ranger dài 121m, rộng 80m, cao 103m. Nó có 12 chiếc neo nặng tổng cộng 20 tấn còn tổng trọng lượng của cả giàn là 25.000 tấn.

Hồ sơ tấn thảm kịch Ranger -0
Giàn khoan Ranger trước ngày xảy ra thảm kịch.

Ranger nổi trên 2 chiếc phao dài 120m và chìm dưới mặt nước 24m. Về khả năng hoạt động, nó có thể khoan ở độ sâu tối đa 7.600m, được xem là giàn khoan dầu bán chìm lớn nhất thế giới cho đến nay, có thể chịu đựng các điều kiện cực kỳ khắc nghiệt trên biển, bao gồm sức gió 190 km/h, sóng biển cao 34m. Hồ sơ đăng kiểm cho phép “Ranger hoạt động không hạn chế ở tất cả mọi vùng biển”.

Tháng 11/1980, Ranger với 84 thành viên di chuyển đến biển Grand Banks thuộc địa phận tỉnh Newfoundland, Canada để thực hiện hợp đồng khoan cho Công ty Dầu khí Mobil Oil of Canada tại mỏ Hybernia. Trước đó, nó đã hoạt động ngoài khơi bờ biển Alaska, New Jersey, Mỹ và Ireland. Trong số 84 thành viên trên giàn, có 56 người Canada, phần lớn đều là kỹ sư chuyên về khoan thăm dò dầu khí.

Ngày 26/11/1981, Ranger bắt đầu khoan giếng J-34, là giếng thứ ba ở mỏ dầu Hibernia. Cùng hoạt động với nó còn có 2 giàn khoan khác nhỏ hơn là giàn Sedco 706, nằm cách Ranger 13,7 km về phía Bắc Đông Bắc và giàn Zapata Ugland ở phía Bắc, cách  Ranger 30,9 km.

Sáng 14/2/1982, đúng vào ngày Lễ Tình nhân, Công ty Nordco Ltd, chịu trách nhiệm dự báo thời tiết trên Đại Tây Dương gửi một thông báo khẩn cấp đến cả 3 giàn, cảnh báo về một cơn bão lớn kèm theo lốc xoáy đang hướng về vùng biển Grand Banks. Theo quy định, mỗi khi có bão, các giàn khoan sẽ phải treo ống khoan ở đầu giếng dưới biển và ngắt kết nối ống nâng khỏi thiết bị khoan. Tuy nhiên, do cơn bão ập đến rất nhanh, sóng cao từ 17 đến 20m nên các kỹ sư trên giàn Ranger buộc phải cắt ống khoan. Đến 2 giờ chiều, họ ngắt kết nối ống nâng.

5 giờ chiều, phòng điều khiển trung tâm báo cáo trưởng giàn Ranger rằng đèn chiếu ở cửa sổ và cửa nóc bị sóng đánh tung vì nó chỉ được thiết kế ở độ cao 8,5m. Trong lúc ấy, giàn Sedco 706 gần đó bị một cơn sóng lớn làm hư hỏng một số vật dụng trên boong, thuyền cứu sinh bị nước cuốn mất.

7 giờ tối, giàn khoan Sedco 706 và giàn Zapata Ugland nghe được những cuộc điện đàm nội bộ của giàn Ranger. Theo đó, một con sóng lớn cao 20m đã đánh thẳng vào Ranger, làm vỡ các cửa sổ phòng điều khiển chấn lưu khiến bảng điều khiển bị thấm nước, các mạch điện mất khả năng hoạt động. Vẫn theo những cuộc điện đàm nội bộ được Sedco 706 và Zapata Ugland nghe thấy, những người ở phòng điều khiển chấn lưu trên giàn Ranger phát hiện đèn báo trên bảng mô phỏng nhấp nháy từ màu đỏ sang xanh lục và ngược lại khiến họ tin rằng các van trong phao chìm dưới nước đang tự đóng mở. Do không tìm được nguyên nhân nên 8 giờ tối, họ cắt nguồn điện dẫn đến bàn điều khiển để buộc các van đóng lại.

Hồ sơ tấn thảm kịch Ranger -0
Trực thăng cứu hộ tiếp cận giàn Ranger khi nó đã bị lật úp.

11 giờ khuya, chẳng hiểu vì lý do gì mà các nhân viên trong phòng điều khiển lại mở nguồn điện. Các cuộc điều tra về sau cho thấy chính việc mở lại nguồn điện cung cấp cho bảng điều khiển đã khiến các van ở mũi phao chìm mở ra. Nước tràn vào khiến cả giàn khoan nặng 25.000 tấn chúi xuống.

1 giờ 52 phút sáng 15/2, một cuộc gọi cấp cứu được gửi đi từ Ranger kèm theo đó là danh sách những hư hỏng nghiêm trọng. Đây là cuộc liên lạc đầu tiên của Ranger kể từ khi cơn bão xảy ra. Ngay lập tức, Cơ quan cứu hộ Canada điều tàu M/V Seaforth Highlander cùng 4 máy bay trực thăng tìm cách tiếp cận. Bên cạnh đó, 2 tàu dự phòng là M/V Boltentor và M/V Nordertor thuộc 2 giàn khoan Sedco 706 và Zapata Ugland cũng được lệnh lên đường hỗ trợ. Tuy nhiên, do cường độ của cơn bão quá mạnh, không một chiếc tàu cũng như không một máy bay trực thăng nào đến được giàn khoan Ranger ở khoảng cách đủ để thực hiện việc cứu hộ an toàn.

2 giờ sáng, Ranger truyền đi thông điệp cuối cùng của mình: "Sẽ không còn liên lạc vô tuyến  từ Ranger. Chúng tôi sẽ tìm cách đến các trạm cứu hộ”. Và, mặc dù tất cả các giàn khoan đều được cung cấp sổ tay hướng dẫn thủ tục khẩn cấp - trong đó nêu cụ thể từng chi tiết của quy trình sơ tán - nhưng đến nay vẫn chưa rõ việc thoát hiểm trên giàn Ranger đã được thực hiện như thế nào.

Các khảo sát về sau, nơi giàn khoan Ranger chìm đã chứng minh rằng ít nhất một thuyền cứu sinh được hạ thủy với khoảng 36 người. Các nhân chứng trên tàu M/V Seaforth Highlander nói họ đã nhìn thấy khoảng 20 thành viên xuống biển cùng một lúc trên một thuyền cứu sinh nhưng do sóng quá lớn, họ không thể đến gần những người này. Mất khoảng nửa tiếng, khi tàu Highlander còn cách thuyền cứu sinh chừng 30m, những người trên tàu ném xuống một cuộn dây và 2 người trên thuyền túm được sợi dây. Thế nhưng, ngay lúc ấy, một con sóng lớn ập đến, chiếc thuyền cứu sinh lật úp. Khi sóng tan, tàu Highlander không nhìn thấy một người nào. Tất cả chết vì hạ thân nhiệt hoặc chết đuối, riêng Ranger còn nổi được khoảng 70 phút trước khi chìm xuống đáy biển lúc 3 giờ 10.

Sáng hôm sau, ngày 16/2, khi bão tan, tất cả những gì còn lại của Ranger chỉ là vài chiếc áo phao cùng 1 thuyền cứu sinh lật úp. 1 tuần sau đó, lần lượt 22 thi thể được vớt lên. Những người còn lại không bao giờ được tìm thấy. Cũng trong ngày này, một tàu container của Liên Xô là chiếc Mekhanik Tarasov cũng gặp nạn bởi cơn bão, cách giàn khoan Ranger 120km về phía Đông. Bị sóng gió vùi dập trong nhiều tiếng đồng hồ, Mekhanik Tarasov chìm xuống đấy biển, mang theo 32 sinh mạng trong tổng số 37 thành viên thủy thủ đoàn. Lloyd Major, phụ trách radio y tế trên giàn khoan  Ranger, người đã rời giàn 4 ngày trước khi thảm họa xảy ra, nói: “Mỗi phiên làm việc của tôi kéo dài 3 tuần. Khi lên trực thăng trở về đất liền, tôi không nghĩ nó chìm chỉ vì một cơn bão, bởi lẽ trước đó, Ranger đã từng chịu 6 cơn bão cường độ mạnh. Lúc truyền hình đưa cảnh nhiều thi thể được trục vớt, tôi đã khóc”.

6 tuần tiếp theo, bằng phương pháp siêu âm định vị, các đội cứu hộ của hải quân Mỹ và hải quân Canada mô tả “giàn khoan Ranger nằm ở độ sâu 90m nhưng các trụ thép đỡ ống khoan chỉ cách mặt nước 30m. Nó lật úp, quay ngược đầu về phía giếng khoan, cách giếng khoan 148m về phía Đông Nam, bao quanh bởi những mảnh vỡ lớn”. Các cuộc khảo sát tiếp theo bằng tàu ngầm điều khiển từ xa cũng cho thấy Ranger bị hư hỏng nặng nề nhưng không phát hiện một tử thi nào trong phòng ngủ của các thành viên cũng như trong phòng điều khiển, phòng ăn, nhà bếp hoặc phòng chiếu phim. Các nhà điều tra cho rằng họ đã bị cá mập trắng ăn thịt.

Hồ sơ tấn thảm kịch Ranger -0
Một góa phụ chỉ cho con trai thấy tên cha nó trên bức tường tưởng niệm thảm kịch.

Lỗi do con người

Sau thảm họa Ranger, Ủy ban điều tra của Canada đã dành 2 năm để xem xét nguyên nhân dẫn đến sự cố. Bản kết luận cho thấy, các thành viên trên giàn khoan đã không được đào tạo để xử lý kịp thời các bất trắc do thời tiết gây nên; trang thiết bị không đầy đủ, nhất là quần áo chống thấm nước trong điều kiện nhiệt độ nước biển ở vùng này trung bình là 16 độ C, không có quy trình cho các tàu hỗ trợ tiếp cận giàn để cứu hộ. Bên cạnh đó, các trực thăng đều đã trên 20 năm tuổi, không an toàn khi bay biển và nhất là căn cứ trực thăng được đặt tại Gander, khoảng cách quá xa để có thể bay đến giàn khoan Ranger tìm kiếm cứu nạn rồi bay về mà không cần tiếp thêm nhiên liệu. Bản báo cáo còn nêu lên những sai sót trong thiết kế, thi công, đặc biệt là phòng điều khiển các khoang dằn bởi lẽ đèn chiếu ở cửa sổ và cửa nóc bị sóng đánh vỡ đã khiến nước biển xâm nhập phòng điều khiển chấn lưu, dẫn đến hệ thống điều khiển khoang dằn tự mở do đoản mạch. Điều này đã khiến Ranger mất cân bằng và lật chỉ bởi một con sóng lớn.

Với Ủy ban điều tra hàng hải Cảnh sát biển Mỹ, thảm họa được tóm tắt bằng một chuỗi sự kiện: Một cơn sóng lớn ập vào giàn khoan khiến một cửa sổ bật tung, nước biển tràn vào phòng điều khiển chấn lưu, vô hiệu hóa đèn chiếu sáng, một số van trong hệ thống điều khiển chấn lưu đã mở do đoản mạch hoặc do bàn tay con người, dẫn đến hiện tượng không thể bơm các két phía trước bằng phương pháp kiểm soát dằn thông thường vì độ lớn của các két nước tạo ra khoảng cách thẳng đứng với các máy bơm, vượt quá lực hút...

Tháng 6/1983, vì khung thép đỡ ống khoan nằm ở độ sâu 30m dưới mặt nước, gây nguy hiểm cho tàu bè khi đi ngang qua, Công ty Wijsmuller Salvage của Hà Lan đã được thuê để kéo nó đến vùng nước sâu hơn. Tuy nhiên, trong quá trình thao tác, ngày 20/6, 2 thợ lặn thiệt mạng do một vụ nổ dưới nước khi tiến hành cắt những khung thép có thể cản trở việc di dời. Chưa hết, ngày 26/2 lại có thêm 1 thợ lặn thiệt mạng khi một khối thép trên giàn khoan rơi trúng vào lúc anh ta chuẩn bị trồi lên mặt nước.

Gần như không có một hình ảnh nào chụp giàn khoan Ranger ngay và trong khi xảy ra thảm họa bởi lẽ nguyên tắc bảo mật trong lĩnh vực khoan thăm dò dầu khí ở Newfounland, cấm tất cả mọi thành viên mang máy ảnh lên giàn. Lloyd Major nói: “Blackmore là trợ lý của tôi. Anh ấy chết đuối và cũng là thi thể đầu tiên được tìm thấy. Tôi chỉ có một bức ảnh duy nhất chụp Blackmore và Warren Haverty - cũng là thợ giàn khoan và cũng đã chết - lúc còn ở trên bờ. Đó là một hoài niệm”.

Về phía thân nhân của những người tử nạn, sau gần 2 năm tranh tụng, Công ty Dầu khí Mobil Oil of Canada và Công ty Ocean Drilling and Exploration Company đã đồng ý bồi thường 444.000 USD cho mỗi gia đình có người chết nhưng còn độc thân. Riêng với 30 góa phụ, mỗi người trong số họ nhận được 800.000 USD.  Cuối năm 1984, Mobil Oil Canada nộp đơn kiện Tập đoàn Mitsubishi Heavy Industries ở Hiroshima, Nhật Bản, là nơi đã đóng giàn khoan Ranger với số tiền bồi thường lên đến 250 triệu USD vì đã “không tuân thủ các quy định bắt buộc về mặt thiết kế, thi công giàn khoan dầu ngoài biển...”.

Cuối cùng, sau nhiều thỏa thuận diễn ra bên ngoài tòa án, Tập đoàn Mitsubishi Heavy Industries đồng ý bồi thường cho Mobil Oil Canada 20 triệu USD.  Việc trục vớt Ranger kéo dài suốt 6 năm sau đó nhưng phần lớn vẫn vĩnh viễn nằm dưới đáy biển...

Vũ Cao (Theo History - Ranger Disaster)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.