GS Nguyễn Văn Huyên trên con đường sự nghiệp

GS Nguyễn Văn Huyên sinh ngày 16/11/1905 tại Lai Xá - Làng nhiếp ảnh - Đất danh nhân, thuộc xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội). Cha ông là cụ Nguyễn Văn Vượng, làm công chức Sở Kho bạc Hà Nội và mất từ khi Nguyễn Văn Huyên mới 8 tuổi. Mẹ ông là cụ Phạm Thị Tý (người cùng thôn) làm nội trợ.

Ông có người chị gái, bà Nguyễn Thị Mão là người có học thức cao, tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương từ niên khóa 1924-1927. Bà thuộc thế hệ giáo viên nữ đầu tiên của Việt Nam. Thương các em mồ côi cha từ nhỏ, bà Mão đỡ đần mẹ, lĩnh trách nhiệm và nuôi hai em ăn học, ở đó cho đến khi học hết đại học cho đi du học tại Pháp quốc. Chồng bà Mão là quan Khâm sai đại thần Bắc bộ Phan Kế Toại, đến năm 1948 được Cụ Hồ Chí Minh tin cậy vời ra làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Ủy viên Hội đồng Quốc phòng rồi Phó Thủ Tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến khi qua đời.

Biết ơn và thương mẹ, chị nuôi mình ăn học, Nguyễn Văn Huyên cố gắng học hành và thành đạt sự nghiệp từ rất sớm. Năm 18 tuổi đã học xong Ban Tú tài toàn phần rồi đậu Cử nhân Văn khoa ưu tú năm 1929 (khi mới tròn 24 tuổi). Hai năm sau (1931) lại đậu Cử nhân Luật tại Trường Đại học danh tiếng thế giới thời bấy giờ - Trường Đại học Tổng hợp Sorbonne (Pháp). Thời kỳ làm nghiên cứu sinh Tiến sĩ ở Pháp, để có kinh phí tự nuôi mình, ông dạy tiếng Việt tại Trường Ngôn ngữ Đông Phương.

Giáo sư Nguyễn Văn Huyên -0
GS Nguyễn Văn Huyên .

Năm 29 tuổi (1934) Nguyễn Văn Huyên là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Văn khoa xuất sắc tại Đại học Sorbonne (Paris - Pháp). Thời đó để bảo vệ luận án nghiên cứu sinh phải trình 2 luận văn. Cả hai luận văn này đều được xếp loại xuất sắc. Sự kiện này làm cho vị Chủ tịch Hội đồng giám khảo, Giáo sư Vendryes phải thốt lên: “Đây là sự kiện lớn lao đáng ghi nhớ trong lịch sử Trường Đại học Sorbonne!”. Điều đó chứng tỏ rằng người Việt Nam là cực kỳ thông minh, có nền văn hóa thực sự. Hai bản luận án này được in ngay thành sách do Nhà xuất bản Paul Guethner ở Paris xuất bản với sự đánh giá rất cao của các nhà chuyên môn Pháp, Đức, Hà Lan thời bấy giờ.

Trong khoảng 10 năm sau đó, ông đã nghiên cứu và liên tục công bố bằng tiếng Pháp thêm 46 công trình nghiên cứu khoa học về văn hóa và văn minh Việt Nam.

Sinh thời, nhà Sử học nổi tiếng Trần Quốc Vượng (Giải thưởng Hồ Chí Minh) đã viết về GS.TS Nguyễn Văn Huyên: “Ông là một nhà khoa học nhân văn lớn và hiện đại ở nửa đầu thế kỷ XX này. Giới nghiên cứu trẻ, già hôm nay còn được học và phải học ở ông nhiều về phương pháp luận và các phương pháp tiếp cận những sự kiện nhân văn”.

Giáo sư Hà Văn Tấn trong lời đề dẫn công trình dịch và xuất bản lần đầu các tác phẩm của ông Huyên bằng tiếng Việt: “Nhà Bác học Nguyễn Văn Huyên với Văn hóa Việt Nam”, đã viết: “Người ta thường coi Nguyễn Văn Huyên là một nhà dân tộc học lớn, điều đó đúng. Nhưng đọc ông, nghiền ngẫm các tác phẩm của ông, tôi lại thấy trội vượt lên với tư cách của một nhà Xã hội học. Có thể nói rằng phần lớn các công trình nghiên cứu của ông đều nhằm hướng tới những phân tích và kết luận xã hội học”, “Tất nhiên, là để hiểu những gì Nguyễn Văn Huyên nói với chúng ta, chúng ta cần có thì giờ để nghiền ngẫm, để nghiên cứu những công trình đồ sộ hiện đã được dịch tất cả của nhà bác học này”.

Khi cuộc Cách mạng Tháng Tám diễn ra, chiều ngày 22/8/1945, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên cùng ba nhà trí thức nổi tiếng ở Hà Nội là Nguyễn Xiển, Ngụy Như Kon Tum và Hồ Hữu Tường cùng ký tên dưới một bức điện thư gửi Hoàng đế Bảo Đại. Trong bức điện có đoạn viết: “…Một Chính phủ nhân dân lâm thời đã thành lập. Chủ tịch là Cụ Hồ Chí Minh. Yêu cầu vua thoái vị ngay để củng cố và thống nhất nền độc lập nước nhà!”.

Sau ngày độc lập, ông đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy giao cho trọng trách Tổng Giám đốc Đại học Vụ kiêm Giám đốc Viện Viễn Đông Bác Cổ. Năm 1946 ông là Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục.

Ông còn được Hội đồng Chính phủ tiến cử tham gia hai cuộc hội nghị lịch sử có quan hệ đến vận mệnh đất nước. Ông là thành viên trong Ban cố vấn Hội nghị Đà Lạt và là thành viên trong phái đoàn ta năm 1946 dự Hội nghị Fontaineblaus tại Paris-Pháp. Trong những ngày ở Pháp ông thường được làm việc trực tiếp với Hồ Chủ tịch.

Sau chuyến đi Pháp trở về, đầu tháng 11/1946, GS.TS Nguyễn Văn Huyên nhận được tấm danh thiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời đến Phủ Chủ tịch bàn công việc và ông được đích thân Cụ Hồ tiến cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) và giữ chức vụ này liên tục 28 năm 350 ngày cho đến khi ông qua đời ngày 19/10/1975, hưởng thọ 70 tuổi.

Một gia đình trí thức mẫu mực, giàu lòng nhân ái

Giáo sư Nguyễn Văn Huyên -0
Vợ chồng cố Giáo sư Nguyễn Văn Huyên trong tuần trăng mật.

Nguyễn Văn Huyên học vì nhà, vì nước, tạm gác tình riêng, mãi đến năm 31 tuổi (1936) mới cưới vợ. Phu nhân là tiểu thư họ Vi-Vi Kim Ngọc, con gái Tổng đốc Thái Bình Vi Văn Định. Là cô gái xinh đẹp sống trong nhung lụa, lại có học thức nên có biết bao công tử con nhà giàu mê đắm nhưng chỉ lọt vào “mắt xanh” của nàng một tài năng trẻ nghèo nhưng giàu kiến thức, đó là Giáo sư Tiến sĩ tài danh Nguyễn Văn Huyên.

Bà Kim Ngọc biết đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích của gia đình, hết lòng ngưỡng mộ và chăm sóc vị trí thức lớn trong tương lai của đất nước. Khi ông đã là Bộ trưởng, bà thường giúp ông giao tiếp trong công tác ngoại giao của chồng. Ông làm việc căng thẳng, thấy ông đứng lên mở nhạc là bà biết ý đi pha trà hoặc cà phê rồi im lặng cùng ông thưởng thức.

Ông bà có với nhau bốn người con, ba gái và một con trai út. Nguyễn Kim Nữ Hạnh là con gái đầu (1937-2010) hay Nguyễn Nữ Hạnh, nguyên là kỹ sư Thông tin của Tổng cục Đường sắt Việt Nam, tác giả cuốn hồi ký: “Tiếp bước chân cha”. Con gái thứ hai là Nguyễn Kim Bích Hà (hay Nguyễn Bích Hà) là PGS.TS, Hiệu trưởng Trường dân lập Nguyễn Văn Huyên - Hà Nội. Con gái thứ ba là Nguyễn Kim Nữ Hiếu (hay Nguyễn Nữ Hiếu) là Đại tá, PGS-TS, Thầy thuốc Nhân dân, nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Chồng là GS. TS, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân Dũng. Thứ tư là con trai út Nguyễn Văn Huy, GS.TS, nguyên Giám đốc-Người sáng lập Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Về hưu, hiện nay là người sáng lập và trực tiếp làm Giám đốc Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên trên quê hương ông - Thôn Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Ông chia sẻ: "Gia đình sống trong cuộc sống kháng chiến, đất nước có chiến tranh và thời kỳ bao cấp kéo dài nên không ít khó khăn trong sinh hoạt nhưng ông bà Nguyễn Văn Huyên-Vi Kim Ngọc biết chăm sóc, tằn tiện để nuôi các con ăn học và trưởng thành như ngày nay là một cố gắng phi thường".

Tháng 8 năm 1975, lần đầu tiên bà được cùng ông sống những ngày hạnh phúc trong chuyến đi nước ngoài chữa bệnh cho ông ở Cộng hòa dân chủ Đức. Tấm ảnh kỷ niệm được chụp vào 8/1975 khi đang trên đường từ Liên Xô, không ngờ đó lại là tấm ảnh cuối cùng của đời bà với người chồng yêu kính khi ông sang Đức để phẫu thuật. Ba tuần lễ trước khi lên bàn mổ, bà cùng ông đi thăm bạn bè người thân.

GS. Huy tâm sự: Mẹ tôi cho rằng đó là tuần trăng mật muộn màng của đời mình. Khi ấy bà chưa đến tuổi 60. Sau ca mổ, bố tôi ra đi vĩnh viễn! Mẹ tôi tưởng chừng không thế sống tiếp được nữa vì nỗi đau và mất mát quá lớn. Mẹ tôi viết di chúc cho các con với những lời thật thê lương, tan nát tận cõi lòng khi nói về ba tuần sống cùng chồng trước khi ông qua đời: “Sung sướng trong hạnh phúc/Đau thương khi vĩnh biệt!”.

Cuốn di chúc viết vào ngày thứ 58 sau khi chồng qua đời, được bà cất kín trong chiếc hộp sắt nhỏ. Mãi 13 năm sau, lúc bà tạ thế gia đình mới tìm thấy. Ông Huy chia sẻ: chúng tôi vừa đọc vừa khóc, xót thương cho mẹ - một trái tim người mẹ vĩ đại. Bố tôi ra đi, mẹ khóc cạn nước mắt, bỏ ăn uống, thức trắng đêm. Cả ngày bà chỉ lần giở từng trang viết, từng kỷ vật của chồng để ngắm nghía, ôm ấp. Có lần mẹ tôi còn cầm di ảnh chồng, thủ thỉ “tâm sự” như lúc ông còn sống. Mỗi buổi tối, như một thói quen, bà pha sẵn cốc chè hay tách cà phê, bật bản nhạc mà ông thích, ngồi nghe hàng giờ liền để hồi tưởng về ông.

Mọi đồ vật bố tôi thường dùng, bà giữ nguyên. Ngay cả chiếc va li ông dùng trong chuyến đi cuối cùng, mẹ nhắc tôi phải bảo quản cẩn thận. Trong Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên chúng tôi sắp dựng, 2 chiếc va li như muốn gửi thông điệp: bố mẹ như đang đi công tác xa thôi. Chúng tôi rất lo lắng việc bố tôi ra đi sẽ khiến cho mẹ tôi suy sụp, cứ thế mà hao mòn sức khỏe. Thế nhưng, may mắn thay, bà đã lấy lại được thăng bằng về tinh thần, tiếp tục sống thêm với con cháu 13 năm nữa (1975 - 1988).

Hà Nội, năm Nhâm Dần - 2022

Hoàng Kim Đáng

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.