Gs hà văn tấn: Một góc nhìn

Sinh thời, GS Hà Văn Tấn được biết đến với tư cách là một học giả xuất sắc, với những nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử cổ - trung đại Việt Nam, lịch sử tư tưởng Việt Nam và triết học phương Đông; một trong những nhà khảo cổ học hàng đầu của đất nước; một nhà nghiên cứu văn hoá có những thành tựu nổi bật..

Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Văn Tấn sinh ngày 16-8-1937; quê quán xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông bị tai biến và phải ngồi một chỗ đã nhiều năm. Mặc dù tiên liệu sức khỏe của GS sẽ ngày một xấu đi, nhưng tin ông mãi mãi đi xa lúc 21h ngày 27-11-2019 vẫn khiến không ít môn sinh và những người yêu lịch sử - văn hóa Việt cảm thấy hụt hẫng. Vậy là đất nước đã mất đi một nhà khoa học lớn, một người thầy tận tâm, một nhân cách đáng kính.

Lâu nay trong dân gian, và nhất là trong giới trí thức xuất thân Đại học Tổng hợp Hà Nội vẫn lưu truyền những câu chuyện về "bộ tứ huyền thoại" trong giới sử học đương đại nước nhà: "Lâm - Lê - Tấn - Vượng" (GS Đinh Xuân Lâm, GS Phan Huy Lê, GS Hà Văn Tấn và GS Trần Quốc Vượng).

Không ít người coi đó là "tứ trụ" của sử học đương đại Việt Nam. Tôi thì không nghĩ như vậy. Nói rằng, các Thầy là tứ trụ của khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội thì đúng, chứ nói rằng các Thầy là tứ trụ của khoa học lịch sử Việt Nam hiện đại, e rằng hơi quá.

Diện mạo sử học đương đại Việt Nam còn có nhiều gương mặt xuất sắc khác: GS Đào Duy Anh, GS Trần Văn Giàu, cụ Hoàng Xuân Hãn, GS Nguyễn Hồng Phong, GS Trương Hữu Quýnh, cụ Phan Khoang, các sử gia hải ngoại như Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Duy Chính...

Cố GS Hà Văn Tấn.
Cố GS Hà Văn Tấn.

Nhưng không thể phủ nhận: "bộ tứ Lâm - Lê - Tấn - Vượng" là những miếng ghép vô cùng quan trọng trong khoa học lịch sử Việt Nam đương đại. Và tôi luôn cảm thấy may mắn, tự hào khi được theo học các Thầy trong suốt thời sinh viên cũng như sau này, khi đã đi làm và học sau đại học. Trong số đó, cá nhân tôi cho rằng, GS Hà Văn Tấn là NGƯỜI KHỔNG LỒ CUỐI CÙNG của khoa học xã hội Việt Nam.

Trong bối cảnh hiện nay và tương lai, có lẽ rất khó có thể xuất hiện một cá nhân xuất chúng bao trùm trên nhiều lĩnh vực (sử học, khảo cổ học, văn hoá học, cổ văn bản học và Phật giáo học) như GS Hà Văn Tấn. Một mẫu hình như GS Hà Văn Tấn dường như là không tưởng trong nhiều năm tới.

Sinh thời, GS Hà Văn Tấn được biết đến với tư cách là một học giả xuất sắc, với những nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử cổ - trung đại Việt Nam, lịch sử tư tưởng Việt Nam và triết học phương Đông; một trong những nhà khảo cổ học hàng đầu của đất nước; một nhà nghiên cứu văn hoá có những thành tựu nổi bật; một nhà nghiên cứu Phật giáo học mà độ khả tín khiến không chỉ bạn đọc, mà chính chúng tăng ni cũng phải ngả mũ bái phục.

Ở lĩnh vực nào, các công trình xuất bản của ông cũng được giới học thuật và bạn đọc đánh giá cao. Ông là một trong số rất ít học giả hiện đại của Việt Nam có thể đọc được cổ văn chữ Hán và chữ Phạn. Với khả năng sử dụng thành thạo 8 ngoại ngữ, GS Hà Văn Tấn có thể tra cứu/so sánh nhiều nguồn tài liệu khác nhau để thực hiện nghiên cứu và xuất bản những công trình để đời.

Tốt nghiệp đại học năm 20 tuổi (1957), mấy năm sau, dưới sự hướng dẫn của GS Đào Duy Anh, ông đã biên dịch, chú giải và giới thiệu "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi (NXB Sử học, 1960). Cũng trong năm đó, khi mới 23 tuổi, thông qua NXB Giáo dục, GS Hà Văn Tấn đã cùng người bạn thân suốt đời của mình là GS Trần Quốc Vượng xuất bản 2 ấn phẩm quan trọng của sử học hiện đại Việt Nam: "Lịch sử chế độ cộng sản nguyên thủy ở Việt Nam" và "Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam (tập I)".

Từ đó đến nay, ông đã xuất bản hàng chục cuốn sách và hơn 250 bài nghiên cứu trên các tạp chí uy tín ở trong và ngoài nước. Ông là nhà khoa học có bút lực dồi dào, nghị lực phi thường và sức làm việc bền bỉ. Ngay cả khi lâm trọng bệnh, phải ngồi xe lăn, với sự giúp đỡ của người thân và các môn sinh, ông vẫn cần mẫn hoàn thành những công việc dang dở.

Cuốn sách gần đây nhất, "Sự sinh thành Việt Nam" (NXB Thế giới, 2017 - là tập hợp những bài viết ngắn từng đăng trên chuyên mục cùng tên của tờ Vietnam Weekly của TTXVN) được ông biên tập và cấu trúc lại trên giường bệnh. Công trình viết chung với PGS Phạm Thị Tâm "Kháng chiến chống xâm lược Nguyên-Mông thế kỷ 13" (NXB Khoa học xã hội xuất bản lần đầu năm 1968, được tái bản nhiều lần) được nhiều học giả uy tín coi là TUYỆT PHẨM.

Đây là một công trình nghiên cứu được trình bày mẫu mực, cấu trúc chặt chẽ, văn phong hàn lâm/trong sáng. Đặc biệt, hệ thống sử liệu được các tác giả sử dụng thì vô cùng phong phú, được khai thác từ nhiều nguồn/bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, và độ khả tín rất cao. Một công trình nghiên cứu lịch sử nhưng có sức mê hoặc cả những người đọc khó tính nhất. Cuốn "Lịch sử Phật giáo Việt Nam" do ông làm chủ biên (NXB Khoa học xã hội xuất bản lần đầu năm 1988) là tập sách đầu tiên trình bày một cách có hệ thống lịch sử du nhập và phát triển của Đạo Phật ở nước ta.

Công trình nghiên cứu "Theo dấu các văn hóa cổ" (NXB Khoa học xã hội, 1997) của ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II (năm 2000). Để đánh giá về các công trình nghiên cứu của GS Hà Văn Tấn, hậu thế sẽ phải dành ra nhiều thời gian và công sức để đọc/thẩm định/và phân tích. Một bài viết ngắn khó có thể chuyển tải nổi.

Bên cạnh sự thông tuệ, minh triết trong nghiên cứu khoa học, GS Hà Văn Tấn còn là một nhà sư phạm mẫu mực, nghiêm khắc, có nhiều đóng góp trong việc đào tạo các thế hệ sinh viên, NCS trong các lĩnh vực Sử học, Khảo cổ học, và Văn hóa học. Ông là một trong những người đầu tiên xây dựng và định hướng phát triển lâu dài cho bộ môn Khảo cổ học, thuộc khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).

Cũng tại đây, ông chính là người sáng lập bộ môn Phương pháp luận sử học mà nội dung của mỗi môn học đều bắt buộc sinh viên và NCS phải đạt đến tận cùng của sự khách quan, trung thực. Các quan điểm chính của ông về phương pháp luận sử học hiện đại được trình bày hệ thống trong tác phẩm "Một số vấn đề lý luận sử học" (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007).

Để bắt kịp với những thành tựu của khoa học liên ngành thế giới, ông đã tham khảo nhiều nguồn tài liệu để biên soạn "Giáo trình toán xác suất thống kê trong khảo cổ học". Năm 1997, Nhà nước đã trao tặng cho GS Hà Văn Tấn danh hiệu Nhà giáo nhân dân, như một sự tri ân và ghi nhận những đóng góp to lớn của ông trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo,.

Đám hậu sinh xuất thân khoa Lịch sử (Đại học Tổng hợp Hà Nội) chúng tôi mỗi khi ngồi với nhau thường hay nói chuyện về các Thầy, nhất là những người thầy gần gũi như GS Trần Quốc Vượng và GS Hà Văn Tấn. Với chúng tôi, cả hai Thầy đều là những tấm gương lớn trong học thuật. Chúng tôi kính trọng và yêu quý cả hai.

Nhưng hình như vị thế của mỗi Thầy trong tâm thức những người làm nghề nghiên cứu khoa học lịch sử như chúng tôi có sự khác nhau nào đó. Chúng tôi nể phục, kính trọng, ngưỡng mộ, gần gũi và có thể xuề xòa với GS Trần Quốc Vượng. Ông là Người Tài. Với khoa học, ông là người nhạy bén trong phán đoán, táo bạo trong tư duy, dũng cảm trong thể hiện quan điểm.

Với đời thường, ông ngang tàng, phóng khoáng, khoái hoạt. Với các môn sinh, ông luôn bao dung, đôi lúc cưng chiều như con cái. Ông có cái "Ngông" của kẻ sĩ, có cái bay bổng của nghệ sĩ, và với những đặc tính đó, ông là một hấp lực rất khó cưỡng đối với môn sinh. GS Hà Văn Tấn có khác đôi chút. Ông lịch duyệt, chừng mực, chặt chẽ, nghiêm cẩn, kỷ luật, và luôn đòi hỏi cao nhất ở môn sinh của mình.

Ban đầu, không ít sinh viên e ngại khi tiếp xúc với ông, nhưng quen rồi, mới thấy thật khó có thể rời xa. GS Hà Văn Tấn có sức hút của một nhà bác học thuần thành. Trong công việc, ngòi bút của ông không bị chi phối bởi các định kiến chính trị. Với ông, tính chính trị cao nhất là lịch sử phải được viết như nó vốn có và nhà sử học lúc nào cũng phải trung thực.

Chúng tôi kính trọng, yêu quý và ngưỡng mộ GS Trần Quốc Vượng, nhưng rất khó học theo Thầy; còn với GS Hà Văn Tấn, muốn hay không, tôi cũng phải gắn bó và học hỏi. Cho đến nay, tôi chưa thấy ai trong số đồng nghiệp có đủ tài năng cũng như bản lĩnh để viết bay bổng và sống "ngang tàng" theo gương thầy Trần Quốc Vượng. Nhưng đã làm nghề thì không thể không học/không đọc về phương pháp luận sử học, và cả những nghiên cứu của GS Hà Văn Tấn - những công trình luôn thể hiện sự mẫu mực: Chặt chẽ trong cấu trúc, sắc bén trong lập luận, khả tín trong phê phán và sử dụng sử liệu, hàn lâm/lịch lãm/trong sáng trong văn phong.

Cũng chính vì thế, GS Hà Văn Tấn có ảnh hưởng sâu sắc không chỉ ở khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội, mà rộng ra là cả ở giới nghiên cứu lịch sử hiện nay trên cả nước. Riêng với cá nhân tôi, ảnh hưởng của GS Hà Văn Tấn là không thể hình dung được.

TS. Mai Thanh Sơn (Viện Khoa học xã hội vùng Trung bộ)

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.