Vinh dự bất ngờ
Giải Nobel đầu tiên được công bố sớm nhất, ngày 8/10 là về y học. Hai nhà khoa học cùng chia sẻ giải thưởng Nobel Y tế là Giáo sư người Anh John Gurdon và Giáo sư Shinya Yamanaka của Đại học Kyoto, Nhật Bản với công trình nghiên cứu mang tính đột phá của họ về tế bào gốc…
Phần lớn các giải thưởng Nobel đều không dễ đoán trước và vì thế, tin tức về chúng thường đến rất bất ngờ với những người được hưởng vinh dự này. GS người Pháp Serge Haroche, người được nhận giải Nobel Vật lý năm nay cùng với nhà khoa học người Mỹ David J. Wineland tiết lộ rằng, ngày 9/10, ông đã nhận được điện thoại báo tin này khi đang đi dạo phố với vợ. Khi nối máy, thoạt tiên ông đã không hiểu ai từ Thụy Điển lại gọi điện thoại cho mình. Và chỉ sau cuộc trò chuyện này ông mới biết mình đã để lỡ gần 100 cuộc điện thoại chúc mừng của bạn bè. GS Haroche cũng nói rằng, ông hết sức ngạc nhiên và thú vị vì được cùng đứng tên đoạt giải với Giáo sư Wineland, vì trước đó hai ông từng công bố các công trình độc lập và mang tính phản biện nhau.
Giải Nobel Hóa học được công bố ngày 10/10, dành cho hai nhà bác học mang quốc tịch Mỹ Robert J.Lefkowitz và Brian K.Kobilka. Họ được vinh danh nhờ công trình nghiên cứu về “các điểm thụ cảm kết đôi G-protein”. Ngày 11/10, giải Nobel Văn học được công bố trao cho nhà văn Trung Quốc Mạc Ngôn.
Ngày 12/10, giải Nobel Hòa bình được công bố dành cho Liên hiệp châu Âu (EU). Giải Nobel Kinh tế 2012 được công bố ngày 15/10 trao cho hai giáo sư kinh tế học người Mỹ Alvivin E.Roth và Lloyd S.Shapley với công trình nghiên cứu về “Lý thuyết phân phối ổn định và thực tiễn về tạo lập thị trường”. Giáo sư Roth nhận được cuộc điện thoại thông báo đoạt giải vào lúc sáng sớm khi ông vẫn chưa tỉnh ngủ nên thoạt tiên đã tỏ ra khó chịu vì bị đánh thức bất ngờ.
Còn là sự kiện
Theo nhà báo Pháp Antoine Jacob, từng có thời gian 15 năm làm việc ở các nước Bắc Âu, viết trên tờ Atlantico, dĩ nhiên là ở thời điểm hiện tại, giải Nobel vẫn còn ý nghĩa của nó. Tuy nhiên, những người (tổ chức) được trao giải Nobel, thí dụ như về hòa bình, luôn luôn trở thành đối tượng để dư luận phê phán. Đã có ý kiến cho rằng, việc lựa chọn một số nhân thân để trao giải thực ra chỉ phục vụ cho quyền lợi của cường quốc nhỏ bé mà Na Uy là một ví dụ sau khi nước này giành được độc lập.
Mọi sự đều phụ thuộc vào sự quan tâm đối với giải Nobel và một khi phản ứng của các phương tiện thông tin đại chúng sẽ gia tăng theo dòng thời gian thì giải Nobel vẫn duy trì được uy tín của mình.
Trong các bộ môn khoa học giải Nobel được trao cho những phát minh đã được thực hiện từ vài năm trước vì như thế mới đánh giá được hiệu quả và tác dụng của những phát minh đó. Tuy nhiên, ngay cả ở đây cũng không tránh được những quyết định sai lầm: năm 1949, giải Nobel trong y học đã được trao cho nhà bác học người Bồ Đào Nha Egas Moniz chỉ nhờ phát minh ra thủ thuật mổ thủy não.
Cũng theo lời nhà báo Jacob, trong quá trình xét chọn những người được nhận giải Nobel thì lúc nào cũng có chỗ để cho các hoạt động lobby. Những hoạt động này được tiến hành bởi một số công ty có vẻ như không đại gia lắm giữa những người có quyền đưa ra lá phiếu lựa chọn của mình. Làm trung gian cho việc chuyển giao ý kiến này có thể là các vị đại sứ ở thủ đô các nước trong vùng Scadinavia. Một số vị đại sứ thường xuyên tới thăm Ban Thư ký Viện Hàn lâm Nobel, cơ quan có quyền lựa chọn người để trao giải về văn học, và mang tới đó các bản dịch những tác phẩm của các nhà văn nổi bật nhất của mình.Tuy nhiên, cũng đừng ảo tưởng là chỉ làm thế là có thể tác động được tới hoạt động của tổ chức này. Thậm chí có thể gây nên những hệ lụy ngược lại. Những người ở Scadinavia cho rằng mọi sự diễn tiến theo một cách khác. Người Pháp nói, nếu chúng ta đã chuyển được phong bì thì sẽ có thể hy vọng vào một sự ưu đãi nào đó. Còn ở Bắc Âu thì nói, việc mua chuộc là rất khó.
Dù thế nào thì trong năm 2005 và 2008 đều đã diễn ra những cuộc tranh luận gay gắt xung quanh giải Nobel Y học. Những thành viên hội đồng tuyển chọn đã bị buộc tội là trong quá khứ từng có lần nhận tiền đãi ngộ của các công ty dược phẩm. Và như vậy có thể đưa ra giả thuyết rằng, môi trường thông tin xung quanh các thành viên này có những lợi ích nhất định đối với các công ty dược phẩm đó.
Nhà báo Jacob cũng chỉ ra những bất cập trong không chỉ một quyết định về giải Nobel. Thí dụ như cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill đã từng được trao giải Nobel Văn học nhờ hồi ký của mình. Trong khi đó nhiều chính trị gia nổi bật lại không được để ý. Thí dụ như Gandhi. Thứ nhất, ông Gandhi đã bị ám sát ngay trong năm mà lần đầu tiên ông được người Na Uy quyết định phải quan tâm tới và lựa chọn. Ngoài ra, chính trong năm 1948, người Na Uy đã quyết định hoàn toàn không trao loại giải này cho ai. Nhìn từ một góc độ, ông Gandhi được coi như một người chống lại lợi ích của nước Anh, vương quốc vẫn được coi là một trong những đồng minh chủ yếu của Na Uy. Và bởi vậy việc trao giải thưởng Nobel cho một người chống lại đế chế Anh và đấu tranh cho quyền độc lập của Ấn Độ chắc chắn sẽ không được đón nhận tích cực ở London…
Tiếm quyền văn hóa
Một trong những giải Nobel được chú ý nhiều nhất nhưng cũng dễ gây nên những tranh cãi nhất là trong lĩnh vực văn học. Theo nhà văn Nga Aleksandr Melikhov, cách thức tuyển chọn của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển trong lĩnh vực văn học khó có thể được đồng tình bởi các nhà văn nghiêm túc.
Nhà văn Melikhov cho rằng, có vẻ như chẳng có gì khác cả trong việc nhà văn nước mình hay nhà văn nước khác trở thành “chúa tể tâm hồn”, - quan trọng là họ viết “thật thiên tài”. Thế nhưng, tai họa là ở chỗ, văn học của từng dân tộc chính là tấm gương mà trong đó họ thấy mình hiện nguyên hình trước cái nhìn của vĩnh cửu. Và nếu như họ sẽ soi vào tấm gương dù là tuyệt hảo nhưng lại là của người khác, thì họ sẽ thấy rằng, đơn giản là họ hoàn toàn không hiện hữu trong lịch sử. Rằng cuộc sống của họ có lẽ là không đáng kể đến mức có thể trở thành đối tượng của bi kịch hay hài kịch. Chính là để gìn giữ trường tồn hình ảnh đẹp nhất của chính mình mà các dân tộc mới cần chủ quyền văn hóa.
Liệu có thể có một viện hàn lâm “thầy bói xem voi” trăm lần trăm đúng nào đó không cần phải trải qua thử thách của thời gian có đủ quyền năng để xác định cái gì là tuyệt tác tương lai của thế giới? Than ôi, các tuyệt tác được tạo nên bởi những danh nhân tinh thần, những nhà sáng tạo, những công bộc của trí tưởng tượng gia truyền, nhưng lại được trao giải thưởng bởi các viên chức của sự vụ. Đó là những người khi can thiệp vào thế giới của tinh thần, chắc chắn sẽ trở thành đám quỷ sứ luôn coi cái thực dụng nhất thời cần hơn cái vĩnh cửu, coi cái thấp hèn quý hơn cái cao cả.
Dường như hiện nay giải Nobel đang áp đặt cho các dân tộc những món hàng văn hóa nhái và vô hình trung đã khiến cho không ít nhà văn a dua theo những mô típ nào đó mà theo họ có thể giúp họ được chọn lựa.
Nếu xem xét danh sách các nhà văn được trao giải Nobel trong giai đoạn mà lịch sử đã đưa ra bản án phán xử của mình rồi, thí dụ trong giai đoạn cho tới những năm 60 của thế kỷ XX, thì có thể thấy, trong số này chỉ có khoảng dưới một phần ba những tác giả vào hàng cổ điển.
Nếu so sánh danh sách những người từng được nhận giải Nobel Vật lý và danh sách các nhà văn được nhận giải Nobel thì có thể thấy, tuyệt đại đa số các nhà vật lý đều là những người có uy tín “bất khả nghi” (Wilhelm Rontgen, Pieter Zeeman và Hendrik Lorentz, Antoine Becquerel và Pierre Curie, Maria Curie, Rayleigh, Lenard…). Còn trong danh sách người đoạt giải Nobel Văn học thì không ít những tên tuổi mà tới nay đã không còn mấy giá trị, thí dụ như Sully-Prudhomme, Theodor Mommsen, Bjornstjerne Bjornson, Echegaray Y Eizaguirre…
Trong danh sách đó đã không có tên những nhà văn hàng đầu như Mark Twain, Emile Zola, Anton Tchekhov, Johan August Strindberg, Henrik Ibsen, Liev Tolstoi (rất nhiều lần bị bác bỏ)… Thậm chí cả nhà văn người Argentina lừng lẫy trí tuệ như Jorge Luis Borges cũng đã bị làm lơ khiến ông sau này đã phải cười chua chát nói, đại ý, mình tự hào vì là nhà văn vĩ đại chưa từng bao giờ được trao giải Nobel