Everest – Mồ chôn của những nhà leo núi

Nếu tính từ năm 1953, khi Edmun Hillary, người New Zealand và Tenzing Norgay, dân tộc Sherpa, Nepal - là hai người đầu tiên đặt chân lên đỉnh Everest - thì đến cuối tháng 5-2018, đã có 27.063 người từ nhiều quốc gia khác nhau tới Tây Tạng, Nepal, với ý định chinh phục ngọn núi cao nhất thế giới nhưng chỉ có 216 người thành công, trong đó 15 người lên được hơn 2 lần, không kể người Sherpa bản xứ.

Cũng trong số 27.063 người nói trên, đã có 297 người thiệt mạng. Bi thảm nhất là 7 nhà leo núi chết ngày 10-5-1996 khi đang cố gắng đặt chân lên “nóc nhà của thế giới”…

Chuyến đi định mệnh

10 giờ sáng ngày 12-4-1996, bốn nhóm leo núi, trong đó có một nhóm do Rob Hall dẫn đầu gồm 13 người, đến biên giới Ấn Độ, Tây Tạng để chuẩn bị chinh phục đỉnh Everest. Theo quy luật, hàng năm cứ vào cuối mùa xuân, đầu mùa hè là khoảng thời gian lý tưởng nhất cho môn thể thao mạo hiểm này bởi lẽ ngoài việc không có tuyết rơi và hiếm khi có những trận bão tuyết, thì sự thay đổi của dòng không khí cũng làm giảm tốc độ gió trên “nóc nhà của thế giới”.

Nhóm Rob Hall (X) trước khi lên đường chinh phục Everest.
Nhóm Rob Hall (X) trước khi lên đường chinh phục Everest.

Núi Everest được đặt theo tên của George Everest, một đại tá người Anh - thành viên của Hội Địa lý Hoàng gia Anh (National Geographic), còn dân Tây Tạng gọi nó là “Chomolangma - Mẹ của vũ trụ”. Độ cao của nó so với mực nước biển là 8.848m, do Radhanath Sikdar, một nhà toán học Ấn Độ đo đạc từ năm 1852.

Có 2 con đường để những người leo núi chinh phục đỉnh Everest, một là từ Nepal đi theo hướng đông nam - và đây cũng là con đường mà Edmund Hillary và Tenzing Norgay lên đỉnh Everest năm 1953. Hai là từ Tây Tạng đi theo hướng đông bắc. Bên cạnh đó, còn có 13 con đường khác nhưng hầu như chẳng ai dám đi - kể cả người dân tộc bản xứ Sherpa vì nó quá nguy hiểm.

Ngày 15-4-1996, sau khi tuyển thêm 8 người Sherpa làm nhiệm vụ dẫn đường và khuân vác đồ đạc, nhóm của Rob Hall bắt đầu khởi hành theo hướng đông nam. Chuyến leo núi được sự bảo trợ của Tạp chí Outside nhằm mục đích viết bài quảng cáo nên trong nhóm có 2 nhà báo là Sandy Hill-Pittman và Jon Krakauer. Dẫn đường cho họ gồm 2 người Sherpa là Lopsang Jangbu và “huyền thoại” Ang Dorje - người đã leo lên đỉnh Everest 19 lần.

Từ chân núi lên Trại Căn cứ (Base Camp) nằm ở độ cao 5.380m, nhóm Rob Hall di chuyển tương đối dễ dàng vì thời tiết khô ráo. Thêm vào đó, do đã từng có hàng chục nghìn nhà leo núi qua lại nên lối đi hình thành rõ ràng. Chuyến hành trình kéo dài 6 ngày nhằm mục đích để những người trong nhóm Rob Hall mới leo lần đầu, tập làm quen với không khí loãng và với chứng say độ cao. Tiếp theo, họ nghỉ lại ở Trại Căn cứ một tuần, vừa để dưỡng sức, vừa nghe “huyền thoại” Ang Dorje phổ biến các kinh nghiệm, nhất là kinh nghiệm thoát hiểm nếu gặp bão tuyết và gió lớn.

Sáng 2-5, nhóm Rob Hall lên đường đến Trại 2, nằm ở độ cao 6.500m. Ngày 7-5, họ lên Trại 3 ở độ cao 7.470m.  Tại đây, 6 người khuân vác Sherpa coi như đã làm xong nhiệm vụ vì họ không thể lên cao hơn nữa do không được trang bị bình oxy. Theo tính toán, sau khi đến được Trại 3, nhóm Rob Hall sẽ phải leo thêm 500m nữa để lên Trại 4, gọi là South Col. Từ trại này trở đi, người Sherpa gọi là “vùng chết” vì những nhà leo núi chỉ có thể chịu đựng độ cao 7.970m tối đa từ 2 đến 3 ngày trước khi lên được đỉnh Everest, còn cách đó hơn 800m

Những sai lầm chết người

Đường từ Trại 4 lên đỉnh Everest rất hiểm trở với những vách đá dựng đứng, những vực sâu hun hút và những mảng tuyết lớn như sân bóng đá, có thể sạt lở bất cứ lúc nào. Ngoài 2 người Sherpa dẫn đường là Lopsang Jangbu và Ang Dorje, nhóm Rob Hall chỉ 3 người có kinh nghiệm về Everest là Hansen, Hutchison và Fischer, trong đó Fischer nổi tiếng vì đã từng leo lên những ngọn núi cao nhất thế giới mà không cần dùng tới bình oxy bổ sung, và đây là lần thứ 2 ông lên đỉnh Everest.

Bia tưởng niệm nhà leo núi Scott Fischer đặt tại Trại Căn cứ (phía sau bên phải là núi Everest).
Bia tưởng niệm nhà leo núi Scott Fischer đặt tại Trại Căn cứ (phía sau bên phải là núi Everest).

Bắt đầu xuất phát lúc 9 giờ sáng ngày 10-5, cuộc chinh phục của nhóm Rob Hall nhanh chóng gặp phải sự trở ngại. Theo nguyên tắc, người dẫn đường Jangbu đi trước, cứ được 50m thì anh phải đóng xuống lớp băng một cây cọc bằng thép rồi rải dây theo cọc này. Những người đi sau chỉ việc lần theo sợi dây leo lên.

Tuy nhiên, chẳng hiểu vì quên hay vì chủ quan bởi đã leo nhiều lần nên Jangbu không rải dây khiến cả nhóm phải mất gần 1 giờ mới đến được một ghềnh đá, gọi là “Ghềnh Tenzing” ở độ cao 8.350m. Sau này, khi thảm họa xảy ra, nguyên nhân về việc Jangbu không rải dây chưa bao giờ có lời giải đáp.

Và phải mất thêm gần 2 giờ nữa để vượt qua quãng đường chỉ dài 410m, nhóm Rob Hall mới đến được “Ghềnh Hillary” ở độ cao 8.760m. Tại đó, họ lại nhận ra rằng không có lối đi cố định nào nên họ đành phải chờ thêm 1 tiếng đồng hồ, đợi Jangbu và Ang Dorje đóng cọc, rải dây.

Và bởi vì 33 nhà leo núi thuộc 4 nhóm khác cũng đang leo lên đỉnh Everest nên Rob Hall cùng Fischer đã yêu cầu các thành viên trong nhóm phải đi cách nhau 15m để tránh trường hợp người lên đỉnh đầu tiên cách người lên cuối một khoảng thời gian quá dài. Đến lúc này, 3 thành viên trong nhóm là Hutchison, Kasischke và Taske quyết định trở về Trại 4 với lý do vì chậm tiến độ, các bình khí oxy dự trữ của họ đã gần hết.

12 giờ 30 trưa, từ Ghềnh Hillary, một thành viên trong nhóm là Boukreev cùng người dẫn đường Ang Dorje xuất phát đầu tiên. 2 giờ chiều, cả hai đến đỉnh Everest. Nghỉ ngơi khoảng 20 phút, Ang Dorje quay lại để giúp những người lên sau. Vào thời điểm đó, các thành viên khác là Krakauer, Harris, Beidleman, Namba, Martin Adams và Klev Schoening cũng đã lên đến đỉnh, 5 người còn lại - trong đó có Rob Hall vẫn tiếp tục leo. Đứng trên đỉnh Everest, nhà báo Krakauer lưu ý mọi người rằng thời tiết trông có vẻ không bình thường, tuyết bắt đầu rơi và ánh sáng đang giảm.

3 giờ chiều, vẫn không thấy hai thành viên cuối cùng là Doug Hansen và Makalu Gau lên đỉnh, cả nhóm quyết định quay xuống. Đến Ghềnh Hillary, người dẫn đường Ang Dorje gặp Hansen ngồi dựa lưng vào một vách đá. Khi thấy Ang ra dấu bảo đi xuống, Hansen không trả lời mà đưa tay chỉ về phía đỉnh núi, có ý vẫn muốn leo lên.

Lúc nhóm Rob Hall đến nơi, người dẫn đường Jangbu tình nguyện đưa Hansen quay lại đỉnh Everest nhưng Rob Hall không đồng ý, ông bảo Ang Dorje và Boukreev xuống núi trước để đặt những bình oxy dự trữ vào những điểm mà ông tin rằng sẽ có nhiều người trong nhóm thiếu oxy trước khi xuống được trại 4.

Tử thần gọi tên

3 giờ 13 phút chiều ngày 10-5, Boukreev cùng Ang Dorje và một người nữa là Martin Adams bắt đầu xuống Trại 4. Theo Boukreev, ông muốn ở lại để hỗ trợ các thành viên khi đi qua những đoạn dốc đứng, cung cấp cho họ nước trà nóng nhưng Rob Hall lại bảo ông xuống trước. Thời tiết càng lúc càng xấu hơn, một trận bão tuyết ở phía tây nam sườn núi làm giảm tầm nhìn, tuyết rơi vùi lấp sợi dây dẫn đường trở lại Trại 4.

Xác Tsewang Paljor lúc được tìm thấy.
Xác Tsewang Paljor lúc được tìm thấy.

Lúc này, Doug Hansen và Makalu Gau, là hai người đi sau cùng, chưa lên được đến đỉnh Everest vẫn quyết tâm leo lên trong lúc Fischer, lên được nhưng không xuống được vì kiệt sức. Một lần nữa, Jangbu - người dẫn đường và Andrew Harris phải quay lại để hỗ trợ. Tuy nhiên, Fischer bảo Jangbu cứ để ông nằm đó và hãy tập trung lo cho những người kia. Trước khi đưa Hansen và Gau xuống núi, Jangbu chụp lên mặt Fischer một mặt nạ dưỡng khí với hy vọng ông sẽ còn sống nếu các nhóm giải cứu đến được kịp thời.

Thế nhưng lúc xuống đến độ cao 8.350m, cả Hansen lẫn Gau đề nghị Jangbu cho họ được nằm lại một chút để nghỉ ngơi, và đó cũng là lần “nằm nghỉ” cuối cùng của Hansen vì vài giờ sau đó, chẳng hiểu nhờ vào phép lạ nào, Gau bò về được Trại 4.

Riêng Andrew Harris, ông bị thiếu oxy trên đường xuống và được coi là mất tích. Trận bão tuyết phát xuất từ sườn núi phía tây nam lúc này đã tràn sang Ghềnh Hillary, mang theo những viên tuyết to như ngón tay cái, bay với tốc độ 70km/giờ. Không thể đi được nữa, những thành viên còn lại của đội Rob Hall co ro trong một hốc đá mặc dù chỉ cách 200m là đến Trại 4.

4 giờ 43 phút sáng 11-5,  Rob Hall dùng điện thoại vệ tinh gọi về Trại Căn cứ, cho biết ông đang ở độ cao 8.349m. Đến 9 giờ, Hall lại gọi, nói rằng một bên tay và chân của ông đã bị liệt. 4 giờ chiều, ông đề nghị Trại Căn cứ kết nối liên lạc cho ông và vợ ông là Jan Arnold, lúc ấy đang mang thai. Trong cuộc nói chuyện cuối cùng này, Hall và vợ chọn tên cho đứa con tương lai rồi ông kết thúc bằng câu: “Ngủ ngon đi, em yêu. Đừng lo lắng quá nhiều”. Vài phút sau, ông chết cóng.

Ở Trại 4, một trong 3 thành viên trở về từ Ghềnh Hillary là Hutchison quyết định quay lên núi để giúp đỡ những người gặp nạn. Tại độ cao 8.721m, Hutchison tìm thấy Weathers và Namba trong tình trạng gần như đóng băng hoàn toàn. Biết rằng không thể cứu được họ, Hutchison đành phải để họ nằm lại.

Tuy nhiên, đến gần cuối ngày, Weathers tỉnh dậy rồi tự bò về Trại 4 trước sự kinh ngạc của nhiều người nhưng sáng hôm sau - ngày 12-5, ông lại bị bỏ rơi một lần nữa khi trận bão tuyết tấn công Trại 4 khiến căn lều của ông bị sụp, trong lúc những người khác thì lo di tản. Mãi 2 ngày sau, một đội cứu hộ mới tìm thấy ông rồi đưa ông xuống Trại 2 bằng trực thăng. Weathers sống sót nhưng mất mũi, mất  nửa cánh tay phải và tất cả các ngón tay ở bàn tay trái vì hoại tử.

Cũng từ Trại 4, Boukreev quay lên núi để tìm Fischer. Khi tìm thấy ông, Boukreev nhận ra rằng ông đã chết. Dùng một tấm vải che mưa bọc xác Fischer lại, Boukreev đặt ông vào một hốc đá. Xác Fischer vẫn nằm đó đến tận bây giờ.

Có nhiều ý kiến phân tích nguyên nhân dẫn đến thảm họa, nhưng tất cả đều đồng ý rằng sự xuất hiện đột ngột của cơn bão tuyết trái mùa đã khiến những người leo núi trong nhóm Rob Hall lâm vào tình trạng lúng túng, bị động, việc chậm trễ trong khâu rải dây dẫn đường cũng như mệnh lệnh “người này đi cách người kia 15m” đã dẫn đến hiện tượng dồn cục ở những đoạn cổ chai khiến việc vượt qua những đoạn này phải kéo dài. Hơn nữa, thời gian để xuống núi an toàn là 2 giờ chiều nhưng nhóm Rob Hall chậm mất 1 tiếng 13 phút.

Một số thành viên hết oxy nhưng những bình oxy dự trữ không được cung cấp kịp thời. 7 người thiệt mạng gồm Rob Hall, Andrew Harris, Yasuko Namba, Scott Fischer, Tsewang Samanla, Dorje Morup, Tsewang Paljor. Xác của Andrew Harris và Doug Hansen không bao giờ được tìm thấy. Xác Rob Hall tìm thấy ngày 22-5. Riêng xác của Yasuko Namba, mãi đến mùa hè năm 1997, khi tuyết tan ra  mới phát hiện.

Vũ Cao (theo The Sports - Everest Disaster)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.