Đồng đội ơi, ngày ấy ở rừng

- Đồng đội ơi vẫn nguyên vẹn một điều
Tôi đã nghĩ từ những năm tháng ấy...
- Đồng đội ơi! Nay sống ở những đâu
Hãy nhớ lại cùng tôi năm tháng ấy...

Gần ba chục năm trước, giữa đói nghèo của thời bao cấp, giữa một vùng quê sâu cách xa đường quốc lộ hơn chục cây số, trong một khu tập thể của ngôi trường sơ tán còn lại từ thời chiến tranh, tôi đã được nghe thơ Nguyễn Thành qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam. Bài thơ lay động hồn tôi, cho tôi vững vàng hơn, ấm lòng hơn giữa cơn khủng hoảng kinh tế, chao đảo nghĩa tình trước cơn giông báo hiệu thời kỳ Đổi mới. Đó là bài thơ "Đồng đội ơi, ngày ấy ở rừng". Những câu thơ thật mộc mạc giản dị mà sâu lắng nghĩa tình, với điệp khúc gọi bạn tha thiết và chân thành:

- Đồng đội ơi vẫn nguyên vẹn một điều
Tôi đã nghĩ từ những năm tháng ấy...
- Đồng đội ơi! Nay sống ở những đâu
Hãy nhớ lại cùng tôi năm tháng ấy
Những tháng năm tuổi xuân ở đấy
Với cơn sốt rung chiều rừng khộp, rừng le...

Tình cảm chân thành của anh đã biến những hô ngữ "đồng đội ơi" trở nên cảm động mà không trở thành sáo ngữ. Có thể nói với bài thơ "Đồng đội ơi, ngày ấy ở rừng", Nguyễn Thành đã nói được tiếng lòng của tất cả những người lính sau chiến tranh. Bài thơ đã được phát đi phát lại nhiều lần, nhất là dịp kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân (22/12) những năm đầu thập kỷ tám mươi. Lúc đó tôi đang làm thơ. Thú thực, tôi chỉ ước sao mình có thể làm được một bài thơ như thế.

Nhưng Nguyễn Thành không chỉ hồi tưởng về quá khứ, dẫu "năm tháng ấy" đẹp đẽ, đầy tình nghĩa. Anh đã nghĩ một cách vững vàng giữa cuộc sống hôm nay ở hoàn cảnh của anh: "Người thợ cày nghĩ điều giản dị". Điều giản dị ấy là điều xuyên suốt truyền thống của cha ông ta, nhưng rất nhiều người quên đi, chỉ có một tâm hồn chân thật như Nguyễn Thành mới luôn luôn nghĩ đến, không những thế anh còn muốn nói với các con của mình phải ghi nhớ khi sống ở đời, trở thành một triết lý tự nhiên:

Trước ngã ba cuộc sống
Giữa cuộc đời hạt đắng còn lẫn vào hạt giống
Màu con sâu giống màu lá xanh tươi
Thì điều tuy giản dị con ơi
Sẽ chẳng dễ nhận ra
Nếu bát cơm con ăn
Không phải chính từ tay mình đem lại.

Hơn mười năm sau, đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ trước, Nguyễn Thành lại nổi lên trong làng thơ Hải Hưng ở sự đổi mới. Tôi thật sự khâm phục anh, vì từ làng Hành Lạc yên tĩnh ấy, trái tim anh vẫn thức, trăn trở không một phút bình yên. Có thể do hoàn cảnh của riêng anh phải vật lộn với cuộc sống. Cũng có thể từ sự thiệt thòi so với bạn bè. Anh không ghen tỵ với ai. Nhưng anh âm thầm để tự khẳng định mình. Một con người có ý chí, có tự trọng thật đáng khâm phục. Nói tóm lại, đó là một nhân cách. Nhân cách đó đã nâng cánh cho thơ anh đổi mới mà vẫn mang hồn cốt của truyền thống, hay nói cách khác phát huy hết truyền thống đã cho Nguyễn Thành những bài thơ đổi mới, như trong bài thơ "Ông Thiện và ông ác ở chùa Hành Lạc", tự nhiên mà ý tưởng mênh mang:

Làng tôi có chùa đã có hai ông rồi
Đá trước thềm mòn chân người đứng vái
Đã bao kẻ bị ông ác phạt tội?
Và bao người được ông Thiện ban khen?
Năm tháng nhuộm mái chùa dầu dãi
Dân làng tôi tin mọi chuyện thiêng liêng
Mà không biết xung quanh cả thế gian biến cải
Ông Thiện và ông ác vẫn ngồi yên
Đứa bé nào thả con diều lên
Báo hiệu một điềm tốt?

Mọi người thường khó hình dung một người làm thơ ở làng quê lại có những câu thơ suy nghĩ sâu sắc đi gần đến triết lý. Nhưng điều ấy theo tôi cũng lại rất dễ hiểu, bởi Nguyễn Thành là một nhà thơ. Tôi gọi anh là nhà thơ với tất cả sự trân trọng, và tôi không bao giờ hạ thấp tiêu chuẩn của danh hiệu này, mặc dù hiện nay số người làm thơ rất nhiều, nhưng nhà thơ thì rất ít. Mà đã là nhà thơ thì bao giờ cũng có tư tưởng. Nhưng tư tưởng trong thơ được nói bằng hình tượng với nhiều cấp độ khác nhau, khi được cô đặc thì sẽ trở thành những triết lý. Thơ Nguyễn Thành chưa có được điều ấy, nhưng đã là những suy nghĩ có sắc thái riêng, và những câu thơ của anh trở thành những câu thơ không dễ dãi:

- Cái con người thật chẳng ra gì!
Ngày bé, đôi lần tôi nghe cha nói thế
Ấy là lúc đời mưa nguồn chớp bể
Buồn bã trầm ngâm Người cạn chén thứ ba...
Bây giờ cha đã đi xa
Tôi đã thành người, và tôi nhận ra
Nhặt ra cái chẳng ra gì của con người mà cha để lại
Ấy là cha tin lắm ở con người.

                                             (Cái con người)

Lại mười lăm năm nữa, tức là ngày hôm nay, sau hơn một phần tư thế kỷ thả thơ vào cuộc đời, vào lòng người, mà cứ hơn chục năm là một chặng; Nguyễn Thành lại đổi mới, lại lột xác để khẳng định mình. Nguyễn Thành có thể chịu thiệt thòi, nhưng anh không bao giờ chịu thất bại, và anh xuất hiện trước bạn bè vẫn hồn nhiên chân thật dẫu anh có phải lăn lộn trong cuộc đời để kiếm sống, để cho thơ tồn tại.

Tôi vui mừng khi thơ anh đổi mới mà tấm lòng của anh không thay đổi. Vẫn mộc mạc, chân chất, vẫn bình dị, thủy chung. Điều này tưởng dễ mà vô cùng khó. Thế đấy, biết bao người vừa hôm nay thế này, ngày mai đã thế khác. Có người còn ở làng quê mà đã ra giọng ở thành phố. Có nhà thơ dân tộc ít người vừa xuống núi đã quên cách nói của dân tộc mình mà nói theo cách của người Kinh. Và biết bao người viết trẻ vừa mới viết văn làm thơ mà đã không còn biết Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bính đâu nữa, chỉ viết hoàn toàn theo cách của Tây của Mỹ, tưởng thế mới là sang! Họ đâu biết rằng, văn chương phải có hồn người, mà mỗi con người đều phải mang hồn của dân tộc, nếu không thì chỉ là những trang giấy đầy chữ mà thôi. Muôn đời thơ vẫn phải là tiếng nói từ trái tim đến với trái tim. Không rung động lòng người thì sao gọi là thơ được. Thơ Tây, thơ Mỹ cũng thế chứ. "Khúc hát trái tim" của thần đồng thơ Mỹ Mattie Stepanek là một ví dụ. Chỉ có thơ giả Tây, giả Mỹ mới không có hồn có cốt. Người ta quý là quý chính anh, chứ quý gì khi anh đeo mặt nạ. Nguyễn Thành đã không đeo mặt nạ, anh vẫn là chính anh, tất nhiên là anh của ngày hôm nay:

Buổi sáng tôi đang cày
Gặp cánh chim vừa hót vừa bay
Dọc luống cày
Giữa cánh đồng gió nâng mùi đất dậy
Tiếng chim nghe rất bổng rất vang
Khiến lòng vui phút chốc hoá mơ màng
Nảy ý thơ về âm vang mùa gặt 

Buổi tối
Trang giấy nằm trước mặt
Tôi lặng yên hồi lâu
Mà thơ chỉ một câu
Vẫn không sao viết được
Lòng thao thức bồn chồn theo tiếng cuốc
Vọng vào sâu thăm thẳm đêm dài
Bỗng phòng trong nhịp thở nấc ra ngoài
Nhịp thở của vợ yêu sao nặng nề đến thế
Sau một ngày lam làm nhịp thở nghe như kể
Về nắng nôi vất vả việc ruộng đồng
Giấy trắng quá tôi không dám dối lòng
Điều định viết sáng nay chẳng còn rung động nữa
Gió vẫn thức xui lá vào đập cửa
Trang giấy nằm trang giấy lại lật nghiêng
Thương cây lúa trên đồng tôi liền viết tên Em.

                       (Bài thơ này không định viết về em)

Hãy cứ viết về cây lúa, về người thợ cày, về những gì gần gũi, thân yêu nhất của anh, bằng cả tâm hồn, trí tuệ và tài năng. Đó sẽ là đóng góp của anh vào nền thơ. Không phải cứ hoa phong lan, hoa cẩm chướng mới là cao quý, mà hoa ngâu, hoa dâm bụt, hoa xoan cũng không gì thay thế được

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.