Nhà thơ Ngô Quân Miện có bài thơ "Tặng anh công nhân xây dựng", một tứ tuyệt khá hoàn chỉnh:
Anh đi xây dựng những công trình
Mùa lại qua mùa, ngủ lán gianh
Những lúc tường cao lên ngói đỏ
Là lúc ba lô lại khởi hành
(1960)
Đây cũng là bài thơ đầu tiên tôi được đọc của nhà thơ. Bài thơ thuộc thế hệ văn học mới sau miền Bắc được giải phóng năm 1954, khởi thủy cho hình tượng đẹp của con người biết sống và làm việc vì đất nước, vì mọi người. Thế hệ chúng tôi, những cô cậu học sinh cấp ba thuở đầu những năm sáu mươi của thế kỷ hai mươi khi còn ngồi trên ghế nhà trường với những bài văn nghị luận, không ít người đã mượn những câu thơ này của nhà thơ Ngô Quân Miện làm minh chứng cho những lý sự chữ nghĩa phổ thông của mình về hình tượng con người mới của miền Bắc trong hòa bình xây dựng. Cũng từ những ngày ấy, mỗi khi đọc đến ba từ Ngô Quân Miện với hai chữ đầu là Ngô Quân, tôi cảm thấy ông như là người của quân đội với dáng vẻ to cao oai vệ và tự nghĩ, nếu không có chân dung, giàu chất binh tướng như thế thì hẳn tên người phải khác. Cái ngây thơ hồn nhiên mang tính duy lý ấy đã khiến tôi ngỡ ngàng một cách thú vị khi sau này được gặp ông, tiếp xúc với ông, quen ông rồi có lúc được làm việc với ông.
![]() |
| Cố nhà thơ Ngô Quân Miện. |
Nhà thơ Ngô Quân Miện dung dị đời thường trong một dáng vẻ nhỏ nhắn, nho nhã. Nhìn bề ngoài khi mới gặp, ta cảm giác ông có vẻ như khắc khổ trầm kín, nhưng khi tiếp xúc lại cảm thấy gần gũi, xởi lởi dần, thân tình dần và thật yên tâm trong nhiều nhẽ. Trước ông, tôi ghi nhận, tự ngẫm và thấy ra được nhiều điều trong lẽ chung và lẽ riêng của người cầm bút. Tôi giật mình khi với một cơ ngơi văn thơ và dịch thuật như thế, ông chỉ mới có một tuyển tập cho riêng mình với trên bốn trăm trang một chút, bìa mềm, có trang cuối in ảnh chân dung và bốn câu thơ tự sự nhắn gửi lấy từ bài "Tạ lỗi các bạn văn":
Bạn bè tặng sách cao như núi
Tôi tựa lưng vào hứng gió tươi
Câu thơ mình viết như tro bụi
Chẳng dám phong bao gửi tạ người
"Tuyển tập Ngô Quân Miện" in năm 2003 do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành và thật tiếc chỉ năm năm sau, con người chân chất, hồn hậu ấy đã khuất núi. Nhà thơ mất năm ông ngoại bát tuần, hưởng dương 84 tuổi. Thời điểm nhà thơ Ngô Quân Miện tạ thế cũng là sự ra đi bất ngờ khi còn đang trẻ của nhà thơ Trần Hòa Bình, người có những câu thơ tài hoa, đồng hương Ba Vì với ông. Tôi và nhà thơ Vũ Từ Trang cùng nhiều người hôm ấy trong một buổi sáng đã cùng lúc đến viếng hai thi sĩ của xứ Đoài ở hai nhà tang lễ khác nhau trong thành phố mà có cảm giác như có gì đó hụt hẫng trong tâm trạng mình. Với tôi, mỗi lần có việc lên Bờ Hồ lúc về qua phố Bà Triệu đến ngôi nhà, đúng hơn là nơi có cái ngõ mở lối sâu vào trong ở bên phải là căn phòng tầng một của nhà thơ Ngô Quân Miện. Nơi đây tôi đã nhiều lần được ngồi cùng ông trò chuyện như anh em, bởi với tôi, ngoài việc là bậc tiên sinh văn chương, ông còn là người đồng hương cao niên gần gũi.
Ông người làng Khê Thượng, xã Sơn Đà, miền Bất Bạt xưa, huyện Ba Vì nay. Đất này xưa thuộc tỉnh Sơn Tây, sau nhập tỉnh là Hà Tây và bây giờ là địa phương ngoại ô của Thủ đô Hà Nội. Làng Khê Thượng ở bên này sông Đà. Còn bên kia là làng Bợ thuộc đất Phú Thọ. Làng Bợ là quê mẹ, còn Thạch Thất là quê cha của tôi. Quê ngoại và quê nội của tôi luôn luôn là hàng xóm của quê hương nhà thơ Ngô Quân Miện. Chính vì tính cốt nhục đồng hương này mà tôi cùng ông và nhiều văn nghệ sĩ khác của vùng đất xứ Đoài đã tụ hội nhau lại và làm nên Câu lạc bộ Văn nghệ sĩ xứ Đoài với nhiều tên tuổi hoạt động trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ ở vùng đất Thủ đô. Nhà thơ Ngô Quân Miện là một trong những người lãnh đạo chính của Câu lạc bộ với họa sĩ Phan Kế An là chủ nhiệm. Mỗi lần Ban chủ nhiệm họp thường là phòng khách của nhà thơ Ngô Quân Miện ở phố Bà Triệu. Trong phần văn chương của Câu lạc bộ, anh em chúng tôi tôn nhà thơ Ngô Quân Miện là người đứng đầu tiêu biểu và gọi ông là bác Trưởng. Tuy vậy, trong lúc trò chuyện, trao đổi văn chương hay công việc, "bác Trưởng" bao giờ cũng gọi chúng tôi là bạn...
Nhà thơ Ngô Quân Miện khởi nghiệp bằng nghề canh nông. Ông học Trường Canh nông Tuyên Quang vào thời điểm trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sau đó làm cán bộ kỹ thuật Sở Canh nông Bắc Bộ. Ông từng tham gia khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 ở Hà Nội. Sau cách mạng thành công, ông tiếp tục nghề canh nông cho đến năm 1951 chuyển sang làm báo Độc Lập, cơ quan ngôn luận của Đảng Dân Chủ Việt Nam. Ông là Tổng biên tập nhiều năm của báo cho đến năm về hưu 1989. Ông còn là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam khóa IV. Nhắc tới ông, người ta ít nhắc tới vị thế quan chức của ông, mà thường nói về nhà báo, nhà thơ làm công tác biên tập.
Được biết là người trông coi toàn bộ công việc của Báo Độc Lập nhưng những bài vở về văn hóa văn nghệ gửi đến, ông đều trực tiếp biên tập và trực tiếp ký duyệt in. Nghe nói chuyện này kéo dài nhiều năm cho đến khi có được người làm sáng tác chuyên nghiệp về báo, ông mới yên tâm trao công việc chữ nghĩa có tính chuyên môn cao này cho người dưới quyền. Tuy "bao sân" vậy nhưng chưa hề thấy một lời kêu ca nào từ phía cộng tác viên rằng ông thế này thế khác với cây bút kia, cây bút nọ. Quen hoặc chưa quen, khi ông nhận bài và đọc bài là cảm nhận một cách vô tư. Ông khách quan trong đánh giá chất lượng, cẩn trọng trong việc chọn nội dung và có tình có lý khi cho in bài. Ngày tôi mới chuyển công tác về Hà Tây cũng đã mon men nhiều lần đến tòa soạn báo ở phố Lý Thường Kiệt gửi bài. Mới đầu là qua Ban trị sự tới ông, sau là qua nhà thơ Vân Long trợ lý biên tập văn nghệ của ông. Tôi đã được báo in bài nhiều lần. Mỗi khi nhận tờ báo Độc Lập có bài thơ của mình được in là mỗi lần tôi thấy sự vô tư và chân tình của người làm báo với cộng tác viên của mình, mà trước đó là nhà thơ Ngô Quân Miện, sau đó là nhà thơ Vân Long. Hai ông là một trong những tiêu biểu của người làm báo thuở ấy...
![]() |
| Bìa cuốn “Tuyển tập Ngô Quân Miện”. |
Trong giới văn chương Việt Nam có nhiều tình bạn chung sự nghiệp, gần tuổi tác, đã có nhiều giai thoại mà đương đại và mai hậu thường nhắc tới với sự nể trọng, quý mến. Trong những tình bạn đẹp ấy có hai người quê xứ Đoài là nhà thơ Quang Dũng, nhà thơ Ngô Quân Miện và "như người xứ Đoài" là nhà thơ Trần Lê Văn có quê gốc ở Nam Định, cư trú ở Hà Nội, nhưng công tác lâu năm ở Hà Tây. Hồi còn đang công tác ở Phòng Sáng tác của Sở Văn hóa- Thông tin Hà Tây, anh em trẻ chúng tôi đã nhiều lần được đón các ông, nghe các ông trò chuyện. Nhớ một ngày đầu xuân, nhà thơ Ngô Quân Miện, nhà thơ Quang Dũng đi ôtô buýt cùng nhà thơ Trần Lê Văn vào thăm anh em văn chương Hà Tây. Tiếp khách chỉ có mấy lát bánh chưng khiến mọi người ngài ngại vì sự đơn sơ của bữa tiệc, nhưng cảm giác ấy đã bị tan ngay trong tiếng cười thoải mái cùng những câu nói lại qua rộn rã của các ông. Nhắc đến tiếng cười của cuộc đời, tôi thường nghĩ tới nụ cười xởi lởi, chân tình của bộ ba thi sĩ non Đoài quê mình với bạn bè, cho dù cuộc sống với các ông có lúc không được êm thuận.
Nhà thơ Ngô Quân Miện nho nhã và Tây học đã trở về với thế giới của những người hiền. Với ông, thơ văn cả cho người lớn, cả cho lứa tuổi thiếu nhi và văn học nước ngoài qua dịch thuật là một khối công việc đáng quý. Với thơ, ông có: "Qua cầu sông Đuống" (giải Ba cuộc thi Thơ năm 1960 - 1961 do Tạp chí Văn Nghệ tổ chức), "Bông hoa cỏ- Mặt gương soi" (in chung- 1981), "Đất ngọn nguồn" (in chung 1982), "Bóng núi" (1993), "Nét hoa văn" (1999). Với văn xuôi, ông có: "Ngày cưới" ( truyện ngắn- 1961); "Gương mặt Hồ Tây" (in chung với Quang Dũng và Trần Lê Văn). Với truyện thiếu nhi ông có: "Bay chuyền" (1976), "Hoa Đồng" (1978), "Bông hoa lạ" (1982); "Ngựa con đi chơi xuân" (1978); "Chú bé nhặt bông gạo" (Tủ sách vàng - 1996). Về văn học dịch, ông có: "Một vườn thơ năm châu" (in chung), "Đêm của những ông hoàng" (tiểu thuyết của Joseph Kessel, 2003)...
Tôi ấn tượng nhiều về thơ của ông, nhất là những bài thơ về quê hương, nhẹ nhàng mà say ngấm với:
Da diết thế cái hương nồng của đất
Tóc thôi xanh ngả trắng vẫn nguyên mùi
(Làng)
Bên ngoại là tình yêu của cha
Bên Khê, bên Bợ một sông Đà
Con sông ngăn cách hai làng ấy
Để bắt người yêu phải lội qua
(Quê ngoại)
Những câu thơ đôn hậu tình người giữ chữ!
Mùa hè năm 2014

