Điểm mặt ứng dụng công nghệ y khoa mới

Internet, smartphone, camera, thiết bị cảm biến, các loại thẻ ngân hàng và mạng xã hội chỉ là một số trong rất nhiều sản phẩm giúp làm phình to “big data” (dữ liệu lớn) theo mỗi giây. Công nghệ tiến bộ mang lại nhiều cơ hội cho các nhà khoa học, trong đó phải kể đến ngành y.

Cuộc cách mạng y khoa từ dữ liệu lớn

Giải mã trình tự bộ gene người, bao gồm khoảng 3 tỷ phân tử ADN, thường phải mất đến vài năm để hoàn thành. Nhưng, hiện nay chỉ cần chưa đến 1 tuần để làm việc đó. Thông tin mà bộ gene cung cấp giúp cho nhà khoa học hiểu rõ hơn về cơ sở gene của nhiều loại bệnh tật nơi con người. Và, một số dự án quy mô lớn như là Dự án bản đồ 100.000 bộ gene người - trong đó nhà khoa học sẽ tiến hành phân tích mã gene của khoảng 75.000 của bệnh nhân ung thư và các căn bệnh hiếm, cũng như họ hàng gần nhất của họ -  được chính phủ Anh tài trợ 300 triệu bảng Anh (khoảng 507 triệu USD) sẽ đem lại cơ hội cho một số gia đình chẩn đoán căn bệnh bí ẩn của con cái. Tổ chức Genomics England do Bộ Y tế Anh thành lập chịu trách nhiệm giám sát dự án.

Điểm mặt ứng dụng công nghệ y khoa mới -0
Một bệnh nhân trải nghiệm công nghệ VR với sự giúp đỡ của nhóm nhà nghiên cứu Đại học Oxford.

Trong y khoa, bệnh án điện tử (hay số hóa) giúp tạo thành nguồn dữ liệu lớn, trong đó chứa đựng mọi dữ liệu về bệnh nhân cho đến thông tin về bệnh học, xét nghiệm (scan, X-quang…). Harry Hemingway - Giáo sư khoa Dịch tễ học lâm sàng và Giám đốc Viện Nghiên cứu Tin học Y tế Farr - là người khai thác dữ  liệu lớn để mang lại lợi ích cho bệnh nhân cũng như cộng đồng. Nói cách khác, Giáo sư Hemingway muốn cải thiện sức khỏe con người và chất lượng chăm sóc y tế dành cho họ bằng cách phân tích mọi loại thông tin đã vô danh hóa (lọc bỏ các thông tin cá nhân). Ví dụ, với sự liên kết dữ liệu từ các bệnh viện, Giáo sư Hemingway có thể “xác định tiến trình thời gian quan trọng của bệnh”.

Ở Anh, có quá nhiều bệnh nhân ung thư được chẩn đoán ở giai đoạn muộn khi bệnh tình thường đã tiến triển đến mức không thể chữa trị được. Thế nhưng, nguồn dữ liệu từ những bệnh nhân này có thể giúp chẩn đoán bệnh sớm hơn cho những người khác. Vấn đề cũng tương tự với một trong những bệnh giết người nguy hiểm nhất thế giới như bệnh tim mạch và ung thư buồng trứng nổi tiếng khó phát hiện. Giáo sư Hemingway giải thích: “Chúng ta có thể sử dụng dữ liệu và máy tính để quan sát mọi triệu chứng và xác định dấu hiệu của những bệnh này”.

Do đó, “dữ liệu lớn” có sức mạnh để trả lời cho rất nhiều câu hỏi trong ngành y. Đó là lý do mà Giáo sư dịch tễ học Đại học Oxford (Anh) Martin Landray giúp phân tích dữ liệu từ dự án UK Biobank – trong đó tuyển mộ khoảng 500.000 người tuổi từ 40 đến 90 từ khắp nơi trên nước Anh. Tất cả những người được chọn này được yêu cầu cung cấp mẫu máu, nước tiểu và nước bọt dành để phân tích trong tương lai; cũng như bao gồm cả thông tin chi tiết về cơ thể, chế độ ăn và lối sống của họ. Và, mỗi người trong số này đều được theo dõi cho đến khi qua đời.

Mục đích của dự án là tạo lập “dữ liệu lớn” cho ngành y. Mới đây, một số nhóm người tham gia được test chức năng nhận thức, trong khi các nhóm khác được xác định kiểu gene và những hình ảnh não bộ của họ cũng được chụp. Dữ liệu thu thập được sẽ giúp nhà khoa học khám phá tại sao một số người mắc phải những bệnh đặc biệt trong khi số khác thì không.

Trước đây, nhà nghiên cứu có rất nhiều câu hỏi đặt ra về sức khỏe con người song họ phải chờ đến nhiều năm mới tìm thấy câu trả lời. Nhưng, Giáo sư Landray cho rằng hiện nay họ đã có cơ hội nhận được câu trả lời trong thời gian nhanh nhất. Đó là lợi ích to lớn mà “dữ liệu lớn” mang lại cho khoa học. Nghiên cứu chỉ dựa vào một số nhỏ bệnh nhân sẽ dẫn đến nhiều sai lầm, đặc biệt khi phải phân tích các yếu tố nguy cơ của bệnh. Do đó, hiện nay nhiều nước trên thế giới đang chạy đua sử dụng dữ liệu để cứu mạng bệnh nhân.

Điểm mặt ứng dụng công nghệ y khoa mới -0
Cánh tay giả cử động nhanh hơn và chính xác hơn nhờ công nghệ VR.

Ứng dụng liệu pháp VR

Bệnh viện nhi Shriners là một trong những trung tâm nổi tiếng nhất nước Mỹ trong điều trị bỏng cho trẻ em và trong số đó có những bệnh nhi bị bỏng kinh khủng nhất – 70% cơ thể bị đốt cháy và vết bỏng xâm chiếm hết cả gương mặt. Điều trị bỏng gây đau đớn khủng khiếp bởi vì mỗi ngày phải tước bỏ những lớp da chết. Hunter Hoffman, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Hiện thực ảo (VRRC) Đại học Washington, bình luận: “Mức độ đau đớn của bệnh nhi phải nói là tột cùng, bất chấp sự chỉ định dùng những loại thuốc giảm đau cực mạnh”. Đó là lý do thúc đẩy Hoffman, chuyên gia khoa Tâm lý học nhận thức, có mặt tại Bệnh viện Nhi Shriners để cung cấp cho bệnh nhi phương pháp điều trị rất khác biệt mang tính cách mạng - đó là liệu pháp hiện thực ảo (VR).

Hunter Hoffman và các đồng nghiệp được coi là những người đi tiên phong trong sử dụng liệu pháp VR chữa trị hội chứng stress hậu chấn thương (PTSD) và các dạng hội chứng sợ hãi (phobia). Sau khi một cánh tay robot đưa cặp kính hiện thực ảo (VR) đến gần sát gương mặt bị bỏng nặng (trong trường hợp bỏng nặng đến phần mặt, bộ thiết bị VR áp vào đầu không thể sử dụng được), bệnh nhi bắt đầu bước vào thế giới liệu pháp kỳ ảo được Giáo sư Hunter Hoffman và cộng sự David Patterson thiết kế.

Trong chương trình liệu pháp “SnowCanyon” (Hẻm núi tuyết), những đứa trẻ sẽ trôi nổi trên một hẻm núi phủ dày tuyết cùng với người tuyết, lều tuyết và voi mammoth đầy lông lá. Bọn trẻ sẽ ném banh tuyết vào những mục tiêu bắt gặp lướt trôi qua với âm nhạc nền của ca sĩ Mỹ Paul Simon. Hiện thực ảo giúp bệnh nhi bỏng nặng bị xao lãng tinh thần đến mức không còn mấy chú ý đến những gì đang diễn ra trong thế giới thực đau đớn -đó là lúc y tá đang rửa vết thương cho các em. Hoffman giải thích: “Vấn đề là con người có một mức độ chú ý giới hạn, trong khi sự đau đớn đòi hỏi nhiều sự tập trung. Do đó, hiện thực ảo khiến cho não bộ kém tập trung khi xử lý các tín hiệu đau”.

Theo Hoffman, liệu pháp VR giúp giảm được cảm giác đau đớn đến 50%, hiệu quả hơn nhiều nếu so sánh với thuốc giảm đau dù có mạnh đến đâu. Ý tưởng sử dụng VR làm xao lãng tinh thần khiến cho bệnh nhân không còn chú ý đến cơn đau nữa đã làm nên cuộc cách mạng chống đau trong y khoa. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một trong nhiều ứng dụng tuyệt vời của VR trong điều trị bệnh. Có lẽ, VR được vận dụng nhiều nhất trong bệnh tâm thần. Ví dụ, một bệnh nhân mắc chứng sợ bay trong không trung được chỉ định ngồi trên chiếc ghế (hay thậm chí một chỗ ngồi mô phỏng như trong máy bay) và mang vào đầu bộ thiết bị VR để trải nghiệm cảm giác như đang trong một chuyến bay thực thụ - cất cánh, thực hiện hành trình bay, hạ cánh, với tiếng ồn động cơ và thậm chí cả âm thanh trò chuyện trong chuyến bay.

Đối với liệu pháp truyền thống, bệnh nhân sẽ phải dần dần làm quen với đối tượng gây ra chứng phobia cho đến thực sự không còn xuất hiện phản ứng sợ hãi tự nhiên nữa. Liệu pháp truyền thống chỉ dễ thực hiện đối với các chứng sợ thông thường - ví dụ, người sợ chó được tiếp xúc với con vật ở bất cứ nơi đâu; hay người mắc chứng sợ khoảng rộng (agoraphobic) có thể dần dần bước ra không gian ngoài trời trong từng khoảng thời gian ngắn. Tuy nhiên, đối với các chứng sợ đặc biệt như là sợ đi máy bay hay sợ cá mập thì liệu pháp truyền thống khó thực hiện cũng như đòi hỏi chi phí thực hiện khá cao trong thực tế.

Các nhà khoa học nhanh chóng nhận ra rằng VR có nhiều ứng dụng cho điều trị nhiều loại bệnh tâm thần như chứng hoang tưởng (paranoia) – một dạng phổ biến trong số nhiều rối loạn tâm thần khác như là tâm thần phân liệt (schizophrenia). Trong nghiên cứu gần đây được công bố trên tờ British Journal of Psychiatry của Anh, bệnh nhân bị “phức cảm ảo giác hành hạ” được sử dụng liệu pháp VR mô phỏng những tình huống xã hội bất ổn và kết quả cho thấy rất khả quan. So với liệu pháp truyền thống, những bệnh nhân được điều trị bằng kỹ thuật VR giảm mạnh chứng ảo giác và hoang tưởng một cách rõ rệt. Một số nghiên cứu khác cũng chứng minh VR hữu ích đối với những đứa trẻ mắc chứng bệnh tự kỷ và ở những bệnh nhân bị suy giảm trí nhớ do tổn thương não bộ.

Điểm mặt ứng dụng công nghệ y khoa mới -0
Công nghệ VR cũng giúp điều trị những bệnh nhân bị liệt chi bước đi trở lại.

Trong một số nghiên cứu sau này của Giáo sư Hunter Hoffman và nhóm cộng sự thiết kế chương trình sử dụng VR điều trị những bệnh nhân rối loạn thần kinh bất ổn hay tâm lý không ổn định dẫn đến khó thể duy trì các mối quan hệ trong xã hội. Công nghệ VR cũng được chỉ định cho những người bị mất chi phải tiếp tục chịu sự đau đớn từ chi đã mất hay còn gọi là “chi ma” - cảm giác như phần chi đã cắt bỏ vẫn còn tồn tại và gây đau. Những người bị đau vì “chi ma” thường được dùng “liệu pháp gương” để cắt triệu chứng đau - tức là, đưa phần chi còn lại vào trong một hộp gương để có vẻ như là 2 tay hay 2 chân vẫn còn nguyên. Vì lý do nào đó chưa được biết rõ, khi nhìn thấy chi đã bị cắt cụt qua gương phản chiếu, bệnh nhân sẽ dịu bớt cơn đau.

Tuy nhiên, cách xử lý này vẫn có những hạn chế, nhất là với những bệnh nhân bị mất cả hai tay hay hai chân. Theo một nghiên cứu mới đây đăng trên tờ Frontiers in Neuroscience cho thấy cách điều trị truyền thống này không hiệu quả đối với một bệnh nhân bị cắt cụt cánh tay và sang hôm sau người này tiếp tục thấy đau trở lại. Sau đó, bệnh nhân được chỉ định thử nghiệm liệu pháp VR sử dụng hoạt động xung điện trong cơ bắp cánh tay còn lại để vận động cánh tay ảo. Sau 10 tuần điều trị tích cực, bệnh nhân bắt đầu trải nghiệm những thời khắc không đau đớn đầu tiên sau nhiều thập niên.

Liệu pháp VR cũng cách mạng hóa kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong y khoa. Thay vì chăm chú quan sát hình ảnh quét qua kỹ thuật MRI hay CT, hiện nay các bác sĩ bắt đầu sử dụng VR để tương tác với những hình ảnh 3D về các bộ phận cơ thể. Trong một phiên thử nghiệm tiến hành tại Đại học Stanford (bang California, Mỹ), bác sĩ sử dụng hình ảnh không gian 3 chiều để đánh giá tình trạng những em bé chào đời với bệnh hẹp động mạch phổi -dạng bệnh tim bẩm sinh trong đó van động mạch phổi không hình thành đúng cách và ngăn không cho máu lưu thông từ tim đến 2 lá phổi.

Trước khi ca phẫu thuật được thực hiện, bác sĩ phải lập bản đồ chi tiết về toàn bộ mạch máu rất nhỏ của bệnh nhi - một công việc cực kỳ khó khăn và dễ gây sai sót. Nhưng với công nghệ mới từ Công ty VR Mỹ Echopixel, bác sĩ sử dụng hệ thống lập thể 3D đặc biệt để nghiên cứu hệ thống mạch máu của bệnh nhi. Kết quả cho thấy công nghệ VR chính xác hơn kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh truyền thống rất nhiều và giúp can thiệp ngoại khoa trong thời gian nhanh hơn – một yếu tố quan trọng trong phẫu thuật. Hiện nay, sinh viên ngành y cũng được học tập với công nghệ VR thay vì mổ xẻ tử thi như trước đây.

Các thiết bị VR ngày càng chất lượng cao hơn và dễ sở hữu hơn - trong quá khứ, những thiết bị này có giá đến hàng trăm ngàn USD, trong khi hiện nay Công ty Ocilus Rift đề xuất sản phẩm chỉ có giá hơn 700 USD! Nhờ giá thành giảm mạnh mà thiết bị VR được sử dụng rộng rãi hơn trong các bệnh viện và dĩ nhiên đối tượng hưởng lợi nhất chính là bệnh nhân. Hunter Hoffman cho biết: “Về cơ bản, công nghệ VR là cuộc cách mạng trong y khoa. Có thể nói rằng sắp tới bệnh nhân bị đau lưng, đau nửa đầu hay đau khớp không cần phải sử dụng thuốc giảm đau nữa bởi vì họ sẽ được các bác sĩ chỉ định điều trị bằng công nghệ VR hiệu quả.

Duy Minh (Tổng hợp)

Các tin khác

AI và mặt trận an ninh phi truyền thống

AI và mặt trận an ninh phi truyền thống

Nếu động cơ hơi nước thúc đẩy cách mạng công nghiệp, Internet mở ra kỷ nguyên kết nối toàn cầu thì trí tuệ nhân tạo (AI) đang định hình nền văn minh số của thế kỷ XXI. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn, công nghệ này cũng bị các tổ chức tội phạm, mạng lưới lừa đảo và các nhóm cực đoan lợi dụng để gia tăng quy mô, mức độ tinh vi của các cuộc tấn công mạng, gian lận tài chính hay thậm chí là khủng bố.

Cuộc chiến của niềm tin

Cuộc chiến của niềm tin

Có những thứ vũ khí không phát ra tiếng nổ. Nó không để lại hố bom, không làm rung cửa kính, cũng không hiện lên trên bản đồ quân sự. Nhưng, nó âm thầm đi vào điện thoại, bảng tin, nhóm chat, những cuộc tranh luận gia đình và cả lá phiếu của cử tri. Tin giả, trong hình hài mới của thời trí tuệ nhân tạo (AI), đang trở thành một thứ vũ khí như thế.

Phát động cao điểm thi đua 70 ngày đêm lập thành tích xuất sắc chào mừng kỉ niệm 70 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát kinh tế

Những người gác cửa vùng kinh tế Đông bắc

Suốt hơn 45 năm xây dựng và trưởng thành, từ 14 cán bộ, chiến sĩ đầu tiên đến đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu và môi trường Công an tỉnh Quảng Ninh đã lặng lẽ giữ vững trận tuyến bảo vệ nền kinh tế, đấu tranh với tham nhũng, buôn lậu, hàng giả và tội phạm kinh tế, góp phần giữ gìn kỷ cương pháp luật, môi trường đầu tư và sự bình yên của nhân dân đất mỏ.

Kỳ I: Pháo đài “Mắt cáo” và “Tam giác vàng” hợp phì

Kỳ I: Pháo đài “Mắt cáo” và “Tam giác vàng” hợp phì

Trong thế giới lượng tử, luật chơi của các điệp viên truyền thống hoàn toàn bị phá sản. Hãy tưởng tượng một bức thư mật được viết bằng các hạt ánh sáng. Chỉ cần một cái nhìn lén lút của mật thám, bức thư sẽ ngay lập tức tự hủy và phát tín hiệu báo động về trung tâm đầu não. Đó không phải là phép thuật, đó là Phân phối khóa lượng tử (QKD) - thứ đang giúp Bắc Kinh xây dựng một hệ thống thông tin liên lạc quốc phòng mà không một siêu máy tính nào của phương Tây có thể giải mã.

Lần theo những “mắt xích tử thần”

Lần theo những “mắt xích tử thần”

Ma túy đá hay các chất ảo giác, muốn đưa vào cơ thể, người nghiện ngập luôn cần đến những “dụng cụ trung gian” - đó là những chiếc nỏ thủy tinh uốn lượn, những chiếc bình khò tinh vi. Lâu nay, dư luận thường chỉ chú ý đến các đường dây mua bán ma túy mà ít ai biết rằng, phía sau dòng chảy đen tối đó là một thị trường ngầm cung cấp “đồ chơi” cho việc sử dụng ma túy vô cùng béo bở. Những kẻ núp bóng sản xuất, cung cấp các vật dụng này đang trở thành nguồn tiếp tay cho làn sóng tội phạm ma túy biến tướng.

UAV Ukraine đã xuyên thủng phòng không của Moscow như thế nào?

UAV Ukraine đã xuyên thủng phòng không của Moscow như thế nào?

Hàng trăm UAV Ukraine tấn công Moscow đã khiến hệ thống phòng không Nga rơi vào tình thế quá tải. Đằng sau đó là một hệ sinh thái UAV tấn công tầm xa đang được Kiev phát triển, với chi phí thấp hơn tên lửa hành trình nhưng đủ sức buộc Moscow phải phân tán, tiêu hao và liên tục điều chỉnh năng lực phòng thủ.

Công nghệ “biến” những ông bố “vô tinh” thực hiện giấc mơ làm cha

Công nghệ “biến” những ông bố “vô tinh” thực hiện giấc mơ làm cha

Đi khám phát hiện không có tinh trùng (vô tinh) người đàn ông bật khóc ngay khi bước ra cửa phòng khám. Anh nghĩ rằng cuộc đời mình không thể có con được nữa. Thất vọng, hoang mang khiến anh sợ làm lỡ duyên của vợ. Trước đây, y học đã nghiên cứu và tìm ra phương pháp nuôi cấy tinh tử thành tinh trùng, mang lại hy vọng có con cho những người đàn ông vô tinh. Nhưng hiện nay, nhờ sự tiến bộ của y học, công nghệ đã “biến” những ông bố “vô tinh” thực hiện được giấc mơ làm cha bằng mổ vi phẫu tinh hoàn tìm tinh trùng.

Đại tá Ngô Thuận Lăng, Trưởng Phòng Cảnh sát kinh tế Công an TP Hồ Chí Minh chia sẻ về vụ án.

Điều gì đẩy người trẻ vào vòng lao lý?

Những cuộc gọi, những buổi tư vấn trong vụ án "hợp đồng kỳ nghỉ" không chỉ khiến hàng nghìn người mất tiền mà còn đẩy nhiều nhân viên telesale ngoài 20 tuổi vướng vào vòng lao lý. Đằng sau những bản án là áp lực kiếm tiền, sự thiếu định hướng và những ranh giới pháp lý, đạo đức bị xóa nhòa, khiến không ít người trẻ trở thành mắt xích trong các đường dây lừa đảo.

Chợ tương tác ảo và hệ lụy khôn lường

Chợ tương tác ảo và hệ lụy khôn lường

Phía sau những tài khoản viral (mức độ nổi tiếng) tạo sóng gây bão trên mạng xã hội, là đội quân đếm like, câu view thời vụ. Ít ai ngờ, chợ like “ảo” và view “ma” này đã tiếp tay cho những chiêu trò lừa đảo tinh vi của tội phạm trên không gian mạng...

Cảm biến lượng tử truy tìm tín hiệu vô tuyến

Cảm biến lượng tử truy tìm tín hiệu vô tuyến

Giữa môi trường tác chiến điện từ ngày càng phức tạp, nơi hàng trăm nguồn phát tín hiệu có thể xuất hiện đồng thời trên chiến trường, quân đội Mỹ đang tìm kiếm những công cụ mới để nâng cao năng lực nhận thức tình huống. Trong nỗ lực đó, các nhà khoa học thuộc Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Lục quân Mỹ (ARL) vừa trình diễn một cảm biến lượng tử thế hệ mới có khả năng xác định hướng của trường điện từ tần số vô tuyến trong không gian ba chiều.

UAV cải tiến có thể tự “săn mồi” trong vùng gây nhiễu

UAV cải tiến có thể tự “săn mồi” trong vùng gây nhiễu

Chiến trường tương lai có thể không còn được quyết định bởi số lượng UAV, mà bởi khả năng chúng tiếp tục chiến đấu khi bị "làm mù" và "cắt đứt liên lạc". Một công bố mới từ Trung Quốc về thuật toán AI HG-STR đang thu hút sự chú ý của giới quân sự khi tuyên bố giúp bầy UAV tự phối hợp truy tìm mục tiêu trong môi trường tác chiến điện tử phức tạp.

Bóng đen sau cánh cửa 37 quốc gia

Bóng đen sau cánh cửa 37 quốc gia

Tháng 2/2026, khi Palo Alto Networks công bố báo cáo về một chiến dịch gián điệp mạng quy mô toàn cầu, Pete Renals, Giám đốc Chương trình An ninh quốc gia của Unit 42, đã dùng một so sánh rất nặng. Ông nói với Recorded Future News rằng đây có thể là vụ xâm phạm hạ tầng chính phủ toàn cầu nghiêm trọng nhất do một nhóm được nhà nước hậu thuẫn thực hiện kể từ SolarWinds. So sánh ấy không ồn ào. Nhưng ai từng theo dõi SolarWinds năm 2020 đều hiểu nó nặng đến mức nào.

EU sẽ gia nhập “mặt trận” chip AI

EU sẽ gia nhập “mặt trận” chip AI

EU dự kiến tham gia sáng kiến chip AI do Mỹ khởi xướng, đánh dấu bước dịch chuyển đáng chú ý trong nỗ lực của phương Tây nhằm kiểm soát chuỗi cung ứng công nghệ chiến lược và kiềm chế tham vọng công nghệ của Trung Quốc.

Gián rít Madagascar - trinh sát toàn năng trong tương lai?

Gián rít Madagascar - trinh sát toàn năng trong tương lai?

Công nghệ điện tử - tự động hóa và trí tuệ nhân tạo phát triển, nhiều sản phẩm viễn tưởng bước ra khỏi phim ảnh để vào đời thực. Tiên phong có gián rít Madagascar “côn trùng người máy” đầu tiên của các nhà khoa học Đức.

Số phận của chiếc MQ1-Predator

Số phận của chiếc MQ1-Predator

Nhiệm vụ chính của máy bay không người lái MQ-1 Predator là ngăn chặn và tiến hành trinh sát vũ trang chống lại mục tiêu quan trọng, dễ bị phá hủy. Khi không thực hiện nhiệm vụ chính, MQ-1 sẽ cung cấp hoạt động trinh sát, giám sát và xác định mục tiêu để hỗ trợ chỉ huy Lực lượng Liên hợp.

Thế giới không thể lơ là trước cuộc chiến chống Ebola

Thế giới không thể lơ là trước cuộc chiến chống Ebola

Một “con bệnh” từ những cánh rừng châu Phi lại trỗi dậy, gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự mong manh của an ninh y tế toàn cầu. Virus Ebola, với tỷ lệ tử vong cao và khả năng gieo rắc nỗi kinh hoàng đang bùng phát trở lại. Một cuộc chiến mới với ngành y tế thế giới lại bắt đầu.

Nhân tố con người trong kỷ nguyên AI quân sự

Nhân tố con người trong kỷ nguyên AI quân sự

Xu hướng đưa trí tuệ nhân tạo (AI) vào lĩnh vực quân sự ngày càng tăng, nhưng cơ chế quản lý vẫn chưa rõ ràng. Dù mang lại nhiều lợi ích cho ngành tình báo và hậu cần, việc quá phóng đại năng lực AI dễ đẩy cao căng thẳng toàn cầu và gây ra những sai sót hệ thống. Trước thực trạng đó, bà Jacquelyn Schneider, Giám đốc Sáng kiến Mô phỏng Chiến tranh và Khủng hoảng tại Viện Hoover (Đại học Stanford), nhận định rằng kiểm soát an toàn từ khâu phát triển và nâng cao tư duy phản biện cho quân nhân là giải pháp cốt lõi.