Dịch ngược và sự cần thiết với văn học Việt Nam

Trong mục tiêu chiến lược “quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới”, đối tượng mà nền văn học của chúng ta cần hướng đến, một cách mạnh mẽ nhất, không phải độc giả quốc nội, mà là độc giả thuộc các nền văn học dân tộc khác, các ngôn ngữ/ chữ viết khác nằm ngoài biên giới quốc gia. Để làm được điều ấy, buộc phải nói đến hoạt động dịch văn học và sản phẩm của nó: các tác phẩm văn học dịch.

Bước đầu của “dịch ngược” trong văn học Việt Nam

Xét ở phương diện lịch sử vấn đề, hoạt động “dịch ngược” này ở văn học Việt Nam là khá muộn so với nhiều nền văn học trên thế giới, và có lẽ nó được bắt đầu bằng việc dịch một danh tác của văn học Việt Nam trung đại: tác phẩm “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du. Điều đáng chú ý: đây là một quá trình liên tục, xuyên suốt kể từ trước năm 1945 cho đến tận bây giờ.

Trước năm 1945 chúng ta đã có các bản dịch Kiều sang tiếng Pháp của các dịch giả như Paulus Của, Nguyễn Văn Vĩnh..., sau năm 1945 chúng ta có bản Kiều được dịch sang tiếng Pháp (được đánh giá là tốt nhất) của bác sỹ Nguyễn Khắc Viện (xuất bản năm 1965, kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du), rồi nhà nghiên cứu văn học, PGS, TS Trương Đăng Dung dịch Kiều sang tiếng Hungary vào những năm 1980, và vài năm gần đây là các bản dịch Kiều sang Anh ngữ của các dịch giả Nguyễn Bình và Dương Tường. (Ở hội thảo “Nguyễn Du và những vấn đề lý luận văn học nghệ thuật trung đại Việt Nam” do Trung tâm nghiên cứu Quốc học tổ chức, dịch giả Nguyễn Minh Hoàng cho biết “Truyện Kiều” đã được dịch ra 16 thứ tiếng, từ những thứ tiếng phổ biến như Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc... đến những thứ tiếng mà chúng ta không bao giờ ngờ đến: Hy Lạp, Mông Cổ, Arab... Tuy nhiên theo ghi nhận của nhà nghiên cứu văn học, PGS, TS Đoàn Lê Giang thì “Truyện Kiều” đã được dịch ra hơn 20 thứ tiếng với trên 60 bản dịch khác nhau).

Dịch ngược và sự cần thiết với văn học Việt Nam -0
Tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Lấy ra một ví dụ như vậy là để thấy vài khía cạnh trong sự quan tâm của các dịch giả nước ngoài đối với văn học Việt Nam. Họ quan tâm vì những giá trị nghệ thuật to lớn, những giá trị nhân văn tốt đẹp nằm ở bản thân tác phẩm “Truyện Kiều”. Họ yêu mến những giá trị ấy và mong muốn chúng được lan tỏa trong đời sống tinh thần của nhân dân nước mình thông qua việc chuyển ngữ từ tiếng Việt.

Nhưng vẫn còn một lý do nữa: ấy là nỗ lực tìm hiểu tại sao nhân dân Việt Nam lại yêu thích “Truyện Kiều” đến như vậy, bất chấp khoảng cách thời gian giữa câu chuyện được kể lại với bối cảnh văn hóa xã hội hiện tại của người đọc/ tiếp nhận tác phẩm? Trả lời được câu hỏi này, có thể nói, các dịch giả nước ngoài và những người đọc nước ngoài đã giải mã được một bí mật trong thế giới tình cảm và đời sống tâm hồn của người Việt Nam.

Quảng bá đất nước, con người Việt Nam bằng văn học

Kể từ sau năm 1954, việc dịch các tác phẩm văn học Việt Nam từ tiếng Việt sang các thứ tiếng, các ngôn ngữ/ chữ viết nước ngoài vẫn tiếp tục được thực hiện, song trong những giai đoạn khác nhau lại kèm theo những đặc điểm cũng rất khác nhau.

Có thể nhận thấy khá rõ hai giai đoạn: từ 1954 đến trước Đổi mới (1986); từ Đổi mới đến nay. Ở giai đoạn thứ nhất, trong bối cảnh chiến tranh  và bối cảnh rộng hơn là Chiến tranh lạnh trên phạm vi toàn thế giới, thì việc dịch văn học Việt Nam ra các thứ tiếng nước ngoài chủ yếu do các dịch giả thuộc những nước trong khối Xã hội Chủ nghĩa thực hiện: Liên Xô, CHDC Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Bulgary, Hungary, Triều Tiên, Cuba... Đối tượng dịch của họ chủ yếu là các tác giả, tác phẩm tiêu biểu thuộc dòng văn học cách mạng, chiến tranh và yêu nước: Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Trần Đăng Khoa...

Tính mục đích ý thức hệ ở đây khá rõ ràng: các dịch giả văn học nước ngoài hết lòng ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam, và do đó, qua các bản dịch văn học, họ mong muốn người đọc nước mình cũng như người đọc toàn thế giới hiểu biết thêm về một nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình nhưng anh hùng và tràn đầy tinh thần cách mạng, một đất nước Việt Nam luôn kiên cường trên tuyến đầu chống lại chủ nghĩa đế quốc để giành lấy độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia. Hình ảnh đất nước và con người Việt Nam trong chiến tranh đã được quảng bá như thế, qua những nỗ lực dịch thuật của các dịch giả văn học người nước ngoài.

Ở giai đoạn thứ hai, từ Đổi mới đến nay, bên cạnh việc tiếp tục dịch và giới thiệu các tác phẩm thuộc dòng văn học cách mạng, chiến tranh và yêu nước, các dịch giả nước ngoài đã có sự tập trung lớn vào nền văn học đương đại, tức là nền văn học của một đất nước Việt Nam hậu chiến, một đất nước Việt Nam đã chuyển từ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập mạnh mẽ với thế giới bên ngoài. Đối tượng dịch của họ đương nhiên là các tác giả, tác phẩm tiêu biểu, những nhân tố cơ bản nhất làm hình thành diện mạo của văn học Việt Nam thời đổi mới và hậu đổi mới.

Người ta có thể thấy trong danh sách tác phẩm văn học được chuyển ngữ từ tiếng Việt sang các thứ tiếng nước ngoài ở giai đoạn này là những tác phẩm cuối đời của Nguyễn Minh Châu, là các tiểu thuyết “Thời xa vắng” của Lê Lựu, “Bến không chồng” của Dương Hướng, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, là các truyện ngắn và thơ của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Quang Thiều, Lê Minh Khuê, Dạ Ngân, Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo, Ý Nhi, Dư Thị Hoàn, Phan Thị Thanh Nhàn, Y Ban, Trần Thùy Mai, Nguyễn Quang Lập, Sương Nguyệt Minh v.v...

Và trẻ nhất trong số các tác giả được dịch này, tính cho đến nay, là những nhà văn sinh ra vào khoảng giữa thập niên 1970, như Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp... Dĩ nhiên là có sự không đồng đều về tác phẩm giữa các tác giả văn học Việt Nam được chọn dịch: có những tác giả là nhiều tiểu thuyết, tập truyện ngắn hay tập thơ, nhưng cũng có những tác giả chỉ là vài truyện ngắn hoặc vài bài thơ được dịch và in trong các tuyển tập gồm nhiều tác giả.

Các dịch giả nước ngoài muốn biết điều gì? Không khó để có câu trả lời: họ muốn biết về đất nước Việt Nam thời hậu chiến và sau đó, đổi mới, về cuộc sống của con người Việt Nam khi chuyển dịch từ trạng thái chiến tranh sang trạng thái đời thường không tiếng súng; về những vui buồn, được mất, hạnh phúc và đau khổ của con người trong bối cảnh một xã hội đang vận hành theo các quy luật kinh tế thị trường, công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ, trong khi những vấn đề di chứng chiến tranh và hòa hợp, hòa giải dân tộc vẫn chưa thực sự chấm dứt, và các vấn đề về toàn cầu hóa, yêu cầu giữ gìn bản sắc văn hóa, sự kết nối giữa truyền thống và hiện đại thì ngày càng được đặt ra và nổi lên một cách rất bức thiết.

Cho đến lúc này, về việc “quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam” thông qua hoạt động dịch các tác phẩm văn học Việt Nam sang các thứ tiếng, các ngôn ngữ/ chữ viết nước ngoài, chủ yếu là do các dịch giả văn học người nước ngoài thực hiện. Họ có thể làm công việc này một cách độc lập, hoặc làm dưới sự bảo trợ của các chính phủ, các trường đại học, các trung tâm văn hóa quốc tế (ví dụ như Trung tâm William Joiner mà cựu chiến binh, giáo sư, nhà thơ người Mỹ Kevin Bowen từng làm giám đốc, chuyên nghiên cứu hậu quả của chiến tranh thông qua văn học). Họ làm vì tình cảm yêu mến đất nước và con người Việt Nam, làm với sự nỗ lực bắc những nhịp cầu thông hiểu giữa nhân dân toàn thế giới với nhân dân Việt Nam.

Nhưng đó là những nỗ lực từ một phía. Còn ở phía kia, phía Việt Nam, không khó để quan sát thấy rằng những nỗ lực như vậy là khá yếu. Chúng ta gần như thụ động trong việc dịch và giới thiệu các tác phẩm văn học của Việt Nam chúng ta với người đọc thế giới. Hãn hữu lắm mới có trường hợp tác giả văn học Việt Nam tự dịch tác phẩm của mình hoặc của các đồng nghiệp trong nước từ tiếng Việt ra các thứ tiếng nước ngoài. Nếu coi đây là “xuất khẩu văn chương”, thì gọi nó là xuất khẩu văn chương theo con đường “tiểu ngạch” hẳn cũng không xa sự thực là mấy.

Việc “quảng bá hình ảnh đất nước con người Việt Nam” thông qua văn học - nói chính xác: thông qua hoạt động dịch văn học - cần một con đường chính ngạch. Nghĩa là nó phải nằm trong, trở thành một phần cơ bản trong chiến lược phát triển văn hóa của nhà nước. Phải xây dựng và phát triển được một tổ chức “dịch ngược” văn học Việt Nam tương đương như “Viện dịch thuật văn học Hàn Quốc” của Hàn Quốc: họ chuyên chú, quyết liệt vào việc dịch các tác phẩm xuất sắc, đáng chú ý, chỉ của văn học Hàn Quốc mà thôi, ra các thứ tiếng nước ngoài, nhất là các ngôn ngữ/ chữ viết vào loại “mạnh” trên thế giới.

Nếu chúng ta xây dựng và phát triển được một cơ quan/ tổ chức “dịch ngược” như vậy, với điều kiện là phải có sự đầu tư về cả kinh phí lẫn con người, thì việc dịch và giới thiệu các giá trị của văn học Việt Nam - từ trung đại đến hiện đại và đương đại - sẽ thực sự là hoạt động mang tính chủ động cao. Và càng chủ động bao nhiêu, chắc chắn, càng đạt hiệu quả cao bấy nhiêu trong việc “quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam” bằng văn học.

Hoài Nam

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?