Đêm đêm thắp ngọn đèn trời…

Ngày xửa ngày xưa, có cậu thư sinh Đặng Xuân Bảng, quê ở làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường (Nam Định), ngay từ thuở bé đã sáng dạ, học hành giỏi giang.

Ai cũng phải khen giỏi. Trước ngày lều chõng, lai kinh ứng thí những mong: “Rồng mây khi gặp hội ưa duyên/ Mang quách cả sở tồn làm sở dụng” (Nguyễn Công Trứ),  có người đến thử tài, đọc vế đối:

Trời có mắt, trời không xa, đèn trời soi xét.

Nào ngờ, người đó vừa dứt lời, chàng đã đọc ngay:

Đất không chân, đất biết chạy, quả đất xoay tròn.

Không thể chê vào đâu. Chữ nghĩa đối lại đâu ra đó. Tự tin lắm. Quả nhiên, khoa thi năm 1856, chàng đã thi đậu tiến sĩ. Ta thấy, ở vế đối này, “quả đất” đối lại với “đèn trời”. Thế thì “đèn trời” là đèn thế nào? Hỏi khó rồi. Trả lời thế nào? Thế thì, cách tốt nhất hãy lật qua quyển sách khác. Rằng, ông thi sĩ trào phúng Kép Trà có cây đèn quý, dưới chân đèn có khắc hai chữ Thiên đăng (đèn trời). Ngày nọ, ông Chánh tổng ghé chơi nhà, nhìn thấy, thích quá, đòi mua. Thích thì chìu. Nhưng sau đó, ông ta lại lờ đi, “quăng cục lơ” không thèm trả tiền. Đòi mãi không được, cáu quá, Kép Trà gửi cho Chánh tổng bài thơ như sau:

Xin ông thắp ngọn đèn trời

Khêu cao cho tỏ khắp mười xã dân

Soi xa rồi lại soi gần

Soi sao đến cụ văn thân mới là…

Thử hỏi, từ câu đối đến câu thơ đều xuất hiện từ “đèn  trời” nhưng có phải một loại? Ta bàn sau. Câu ca dao xao xuyến nhất trong tình cảm mỗi người, nói về nỗi lòng nhớ đấng sinh thành, vẫn là lúc:

Ngó lên nhang thắp đèn lờ

Mẫu thân đâu vắng giường thờ quạnh hiu

“Giường thờ” là nơi ông bà, cha mẹ lúc sinh thời đã từng ngồi, nằm, ngủ. Khi xưa, lúc tang lễ, chủ nhà khiêng cái giường này đặt sát quan tài nhằm tỏ ý kính trọng như lúc mẹ cha, ông bà còn sống. Lần hồi, giường thờ cải tiến thành “bàn thờ”, nhỏ, thấp, đặt sát vách, có các vật dụng mà người quá cố đã dùng như bình vôi ăn trầu, chén trà, khăn quàng vai, thêm lư hương đốt trầm, bộ lư… Dần dà, “bàn thờ” cải tiến thành “tủ thờ” cao hơn. Tủ thờ đóng bằng gỗ tốt, có cẩn xà cừ, khắc các cảnh tùng, bách, ngôi đình, cầu kiều, hình ngũ quả… Và, trên bàn thờ luôn thắp ngọn đèn dầu. Ngọn lửa bé như hạt đậu. Còn nhớ, hồi nhỏ đi học, bạn bè hay đùa nhau: “Đêm đen, đem đèn đi đâu đó?”. Sở dĩ nhìn thấy là do đèn ấy thắp sáng. Mà, có lúc không dùng từ “thắp”, ta có thể thay bằng từ “lên”, thí dụ, có người tặc lưỡi: “Chà, nhà đã lên đèn nhưng vẫn chưa thấy nó về”. Lên đèn là đèn lúc ấy đã thắp sáng.

Đêm đêm thắp ngọn đèn trời… -0
Ảnh: S.t

Thiệt ngộ nghĩnh cho tiếng Việt, với ngọn đèn đôi khi từ sáng và cháy lại sử dụng cực kỳ tréo ngoe. Thí dụ, vì lý do gì đó, ngọn đèn bị hư, bị hỏng nên lúc bật công-tắc không tỏa ra ánh sáng, người ta gọi đèn cháy/ đèn bị cháy tức đèn đã xi cà que, “xong phim”, muốn sử dụng phải thay bóng đèn mới, lúc ấy, người ta gọi “đèn sáng”. Loại đèn này lâu hư, không dễ bị cháy, thế nên mới xuất câu thề thốt: “Thề có bóng đèn làm chứng”. Nghe ra trớt quớt vì nếu lời thề đó sai/ không đúng/ nói xạo thì bóng đèn cháy cái cụp? Sức mấy, vì đèn này sử dụng bằng điện. Hồi người Pháp mới sang nước Nam ta, bấy giờ mới có điện, người ta gọi “đèn điện khí”.

Khi cụ Nguyễn Đình Chiểu “Trước đèn xem chuyện Tây Minh” thì cụ phải châm tim đèn trong đĩa dầu phụng/ dầu phọng, dầu lạc gọi là “đèn cháy”, ta hiểu đèn đang tỏa ra ánh sáng. Đèn ấy, thỉnh thoảng phải khêu/ khêu tim đèn: “Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ/ Dầu hao thiếp chịu, đèn lờ thiếp khêu”. Vâng, sáng là từ trái nghĩa với tối, nhưng tùy loại đèn, ta thấy “đèn sáng” ngược với “đèn cháy”, thế nhưng “đèn cháy” có lúc cũng hiểu là “đèn sáng”.

Thiệt oái oăm.

Nếu lúc cạn dầu, ánh sáng chỉ tỏa ra lờ mờ, ngọn lửa thấp thì gọi “cháy lu”; nếu ánh đèn điện không sáng tỏ, cũng chỉ mờ mờ như thế, gọi là “điện lu”. Mà, cái sự điện lu này khi sử dụng trong cách nói trào phúng của người Việt lại hàm nghĩa hoàn toàn khác. Ta hãy đọc bài tứ tuyệt của Phan Minh Phụ - cháu ngoại của nhà thơ Thượng Tân Thị nổi tiếng ở miền Nam:

Ai cũng than phiền ánh điện lu

U u ám ám tợ mây mù

Đêm xuân sao nhuốm màu thu đạm

Lòng đã u buồn,  điện cũng u

Điện lu/ điện u là điện gì? Là điện thiếu ánh sáng, không sáng tỏ, vậy, khác gì với cháy lu không ta? Nghe hỏi, biết rằng, có ai đó đang tủm tỉm vỗ đùi cái đét ra chiều thích thú lắm đây. Ngược với điện lu/ cháy lu ắt ta có từ gì? Có một từ cần phải nhắc đến vì có thể ít ai sử dụng, chính là rệt. “Rệt: Tỏ rõ” (Việt Nam tự điển, 1931). Như vậy, rệt này ta còn thấy trong từ đôi “rõ rệt”. Nay, chẳng mấy ai nói “tỏ rệt” mà trước đây “Đại Nam quốc âm tự vị” (1895) đã ghi nhận, thường sử dụng “tỏ rõ”. Mà, rệt còn có nghĩa là “sáng lắm, rõ ràng”, ở cấp độ cao hơn chính là “rực” tức sáng bừng lên, tỏa sáng. Hiểu như thế nên khi làm “Phần tự vị” Chinh phụ ngâm bị khảo (NXB Văn Học - 1993), câu thơ chữ Hán “Phong hỏa ảnh chiếu Cam Tuyền vân” (Ánh lửa cao lẫn khói bốc lên (báo có giặc) rực chiếu đến tận đám mây ở Cam Tuyền - bản dịch của “Tổng tập văn học Việt Nam”, tập 13B, với câu dịch: “Khói Lam Tuyền rực rệt thức mây”, cụ Hoàng Xuân Hãn giải thích: “Rực rệt: Trỏ lửa đỏ lắm, chiếu sáng ra chung quanh” (tr. 272). Theo cụ, rực rệt cũng hàm nghĩa như rựng, vì thế với dị bản: “Ngoài Cam Tuyền lửa khét rựng mây”, cụ cũng giải thích như rực rệt.

Có điều lạ, hiểu là hiểu như thế nhưng biết đâu trong trí nhớ của nhiều người vẫn thích câu dịch: “Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây”? Cứ gõ câu này trên Goolge, ta sẽ thấy có “Khoảng 102.000 kết quả (0,62 giây)”, vượt xa số lượng các câu dịch vừa nêu trên. Mà “mờ mịt” là tối tăm, không thấy gì cả, tức là đã hiểu qua nghĩa khác, ít ra là khác với nguyên tác chữ Hán. Tại sao lạ thế? Thiết tưởng do các từ rệt, tỏ rệt, rực rệt, rựng đã phai nghĩa theo năm tháng, người sử dụng chọn lấy từ khác dễ hiểu hơn đang đồng hành cùng thời đại của họ chăng?

Vậy, cháy là gì?

Cứ theo như “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) có cả thảy 6 nghĩa: “1. Bén, bốc lửa thành ngọn; 2. Bị thiêu hủy bằng nhiệt; 3. Nóng ran, khô khát, khó chịu trong người; 4. Bị hủy hoại, làm cho sạm đen do thời tiết, khí hậu bất thường; 5. Bị hủy hoại, đứt mạch điện, do dòng điện quá mạnh; 6. Phản ứng tỏa nhiệt và có ánh sáng. Ngoài ra còn có thêm nghĩa nhằm chỉ lớp cơm cháy bị sém đóng thành từng mảng ở đáy nồi, chẳng hạn, cháy cơm nếp”. Thế thì, “đèn cháy” trong ngữ cảnh vừa nêu trên có thể hiểu theo nghĩa 1 và nghĩa 5.

Thế nhưng trong tục ngữ, thành ngữ dù vẫn có từ “cháy” nhưng chắc gì đã nằm trong các nghĩa vừa nêu, thí dụ, người miền Nam có từ “sát cháy”, “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) giải thích: “Sát cứng, khít rịt. Thường nói về đồ khảm nhận khéo, không hở mí”. Lại còn có câu: “Khi lành, cho nhau ăn cháy; khi dữ, mắng nhau cạy nồi”, hiểu theo nghĩa bóng khi thương khi ghét không chừng; “Cháy gan cháy ruột/ Cháy ruột cháy gan” lại hiểu là lo lắng, bồn chồn thái quá, nẫu cả ruột gan - nếu không dùng từ cháy, ta thay thế “Bầm gan tím ruột” cũng được.  Có người than thở: “Canh bạc đó nhọ quá, tớ cháy túi”, chẳng cái túi nào bị cháy cả, chẳng qua chỉ là cách nói nhẵn túi, không còn một xu teng, một xèng nào. Lại còn có từ “chữa cháy” nhưng chắc gì có lửa đang phừng phừng? Thí dụ, đêm diễn ấy, đã đến tiết mục xuất hiện trên sân khấu nhưng ca sĩ danh ca Z vẫn chưa đến, chậm trễ kiểu này gay quá. Lập tức một người khác bất đắc dĩ phải “điền vào chỗ trống”, hành động “cứu bàn thua trông thấy” này gọi là chữa cháy.

Rằng, khi nhà thơ Vũ Quần Phương viết:

Áo đỏ em đi giữa phố đông

Cây xanh như cũng ánh theo hồng

Em đi lửa cháy trong bao mắt

Anh đứng thành tro em biết không?

Ơ hay, tại sao “lửa cháy trong bao mắt” vào lúc “em đi”? Ấy là cách nói hoa mỹ nhằm diễn đạt, có nhiều ánh mắt sáng lên, cháy sáng như lửa đặng dõi theo em một cách chăm chú. Do có từ “lửa cháy” nên mới có câu kế tiếp “anh đứng thành tro”. Muốn thành tro, cái thân thể ấy không chỉ cháy sém, cháy riu riu, cháy tròm trèm mà phải bị cháy bùng, cháy bừng, cháy phừng phựt, cháy hực, cháy rụi, cháy đen, cháy tiêu nhưng ở đây không xảy ra, vì: “Anh đứng thành tro” là ngụ ý đang ghen/ ghen tuông, ganh tỵ/ tỵ nạnh mà không thể thốt nên lời. Đèn dầu muốn có lửa thì phải thắp/ đốt/ chích vào tim đèn. Ca dao có câu cực hay, rất đỗi cảm động:

Đêm đêm thắp ngọn đèn trời

Cầu cho cha mẹ sống đời với con

Ơ hay, “đèn trời” là gì? Khó hiểu quá. Trong các loại đèn, làm gì có đèn trời? Đúng không nào? Để khỏi tranh cãi lôi thôi, xin liệt kê các loại đèn mà “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam đã ghi nhận. Chọn lấy từ điển này, vì rằng, đây vẫn quyển sách ghi nhận nhiều nhất các vốn từ hiện nay, cho đến thời điểm này: Đèn, đèn ba cực, đèn bàn, đèn bán dẫn, đèn biển, đèn cảm ứng, đèn cây, đèn cầy (nến), đèn chạy quân (đèn cù), đèn chiếu, đèn chớp, đèn cồn, đèn cườm, đèn dầu, đèn đất (đèn khí đá), đèn điện, đèn điện tử, đèn đóm, đèn lồng, đèn măng sông, đèn nê ông (neon), đèn trứng vịt, đèn xếp, đèn xì…

Hãy xem từ điển giải thích thế nào? “Đèn giời/ đèn trời: Sự sáng suốt của người bề trên, ví như ông trời, có thể nhìn thấy thấu suốt mọi uẩn khúc, éo le của người đời: nhờ đèn trời soi xét”. Cách giải thích này, hoàn toàn phù hợp với ngữ ghĩa trong bài thơ của Kép Trà gửi một vị quan lớn và  của tiến sĩ Đặng Xuân Bảng vừa nêu trên. Rõ ràng là hiểu theo nghĩa bóng, còn “đèn giời/ đèn trời” trong câu ca dao “Đêm đêm thắp ngọn đèn trời” lại khác. Hoàn toàn không dính dáng gì với giải thích trên.

Thế, đèn trời là đèn gì?

Trong quyển “Đặc khảo về tín ngưỡng gia thần” (NXB Văn hóa - Văn nghệ - 2013), hai nhà Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc căn cứ vào quyển “La vie intime dun Annamite de Cochinchine et ses croyances vulgaires” (1907) của Lê Văn Phát giải thích rõ ràng, có liên quan đến bàn thờ Thiên, tức bàn thờ đặt ngoài trời:

“Tập tục thờ Trời ở bàn Ông Thiên này được tiến hành hàng ngày, gia chủ thắp nhang vái trời, đất, bốn phương cầu cho gia đình được an lành và đặc biệt là cầu thọ cho cha mẹ. Tập tục đốt một ngọn đèn chong suốt đêm ở bàn thờ Thiên là nhằm cầu thọ. “Đêm đêm thắp ngọn đèn trời/ Cầu cho cha mẹ sống đời với con”. Lễ trọng nhất trong năm là lễ vía Trời vào ngày mồng 8 rạng ngày mồng 9 tháng Giêng hằng năm theo lệ: “Mồng 9 vía Trời, mồng 10 vía Đất” có nguồn gốc từ người Hoa. Lễ gọi là vía Trời với nghi thức hành lễ gọi là “Thắp đèn trời”: “Đốt một ngọn đèn sáp lớn tỏa sáng rực và đốt lò trầm hương. Cả hai cháy suốt đêm. Mục đích nhằm cầu an và cầu thọ cho cha mẹ. Đặc biệt trong lễ này, người ta trang hoàng nhà cửa tươm tất, dùng chén bát, đồ sứ sang trọng và mời dàn nhạc tấu mở tiệc đãi cha mẹ và bạn bè suốt  đêm” (tr. 160-161).

Có điều thú vị, có lẽ ít ai biết đến là trong trò chơi “thai đố” ở miền Nam ngày xưa, khi đọc lên câu ca dao này, “nhà cái” hỏi: “Xuất quả?”. Ai biết sẽ nhận thưởng. Này bạn mình ơi, quả gì/ trái gì thế? Xin thưa, đáp án chính xác là trái mãng cầu.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?