Đề thi Ngữ văn trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) năm 2026 đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận với nhiều ý kiến trái chiều. Không chỉ là câu chuyện của một kỳ thi, những tranh luận xung quanh đề thi còn đặt ra nhiều vấn đề về đổi mới dạy và học, cách kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn trong trường phổ thông. Phóng viên Báo CAND đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Bùi Mạnh Hùng, Điều phối viên chính Ban Phát triển Chương trình Giáo dục Phổ thông (GDPT) mới, Tổng chủ biên sách giáo khoa Ngữ văn, bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” xung quanh vấn đề này.
PV: Những tranh luận xung quanh đề thi Ngữ văn tốt nghiệp THPT năm 2026 đã thu hút sự quan tâm của dư luận. Ông có nhận xét, đánh giá thế nào về đề thi môn Ngữ văn năm nay?
PGS.TS Bùi Mạnh Hùng: Đề thi tốt nghiệp Ngữ văn năm nay bám sát hơn chương trình GDPT 2018, thể hiện rõ nét hơn định hướng đổi mới trong đánh giá kết quả học tập của học sinh (HS). Đề thi cũng bảo đảm đúng cấu trúc được thể hiện qua đề thi minh họa mà Bộ GD&ĐT đã công bố và cũng tương tự cấu trúc đề thi năm 2025 nên không gây bất ngờ hay khó khăn gì đối với thí sinh.
Có thể khẳng định, đề thi tốt nghiệp THPT năm nay tiếp tục thể hiện nỗ lực của ngành Giáo dục trong việc khắc phục tình trạng dạy học theo “văn mẫu”. Phần "đọc hiểu" và phần "viết" đều đòi hỏi HS không chỉ có năng lực đọc, viết mà còn phải có năng lực tư duy và có hiểu biết về những vấn đề lớn của đất nước và thời đại. Nhóm ra đề thi đã cố gắng đưa “không khí toàn cầu hóa” vào đề thi, gây hứng thú đối với thí sinh, góp phần thay đổi nhận thức, khơi gợi khát vọng trong mỗi công dân trẻ tuổi. Tuy lựa chọn chủ đề “hướng ngoại” có phần “thiếu an toàn” nhưng tôi đánh giá cao sự lựa chọn của nhóm ra đề.
Có người băn khoăn đề thi có vẻ “thiếu chất văn”. Tuy nhiên, cần hiểu rõ môn Ngữ văn mới cần giúp HS đọc, viết, nói và nghe nhiều kiểu loại văn bản đa dạng để đáp ứng nhu cầu về đời sống và công việc sau khi tốt nghiệp phổ thông, chứ không phải chỉ biết đọc hiểu và viết về văn học. Nội dung phần "đọc hiểu" có tính thời sự cao. Việc đưa một văn bản xuất bản ngay trong năm 2026 và câu hỏi về Trí tuệ nhân tạo (AI) vào phần "đọc hiểu" cho thấy đề thi hướng thẳng đến những vấn đề nóng của cuộc sống hiện nay, phù hợp với bối cảnh đất nước đang triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, và Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Hệ thống câu hỏi đọc hiểu đã chạm được yêu cầu đọc hiểu một văn bản nghị luận theo quy định của chương trình. Câu 1 và câu 2 khá dễ, giúp HS yếu có được điểm, nhưng cũng hợp lí, không vô vị, vì đánh giá được kết quả đọc hiểu của HS.
Tôi chú ý đặc biệt đến câu hỏi về tiếng Việt. Tuy chỉ là những câu hỏi đơn giản, dễ trả lời nhưng hữu ích. Cách hỏi này buộc HS phải đọc kĩ văn bản, nhất là trong quá trình dạy học, giáo viên phải chú ý tăng cường vốn từ cho HS, tức là chạm vào đúng yêu cầu phát triển kĩ năng ngôn ngữ cho người học. Thầy và trò sẽ không luyện thi theo mẫu được.
PV: Phần viết trong đề thi Ngữ văn tốt nghiệp THPT năm 2026 với yêu cầu trả lời câu hỏi “Làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam?" đang gây tranh luận. Trong đó có không ít ý kiến băn khoăn về cách đặt vấn đề trong một đề thi quốc gia. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?
PGS.TS Bùi Mạnh Hùng: Đây là nội dung được bàn luận nhiều nhất sau kỳ thi. Theo tôi, câu hỏi này có một số điểm cần rút kinh nghiệm. Trước hết, cách giới thiệu về Steve Jobs, Mark Zuckerberg và Elon Musk gắn với “những phát minh công nghệ” dễ gây nhầm lẫn giữa “nhà phát minh” và “nhà đổi mới sáng tạo, doanh nhân công nghệ”. Nếu đề bài xác định rõ hơn, HS sẽ định hướng nghị luận chính xác hơn. Bên cạnh đó, câu dẫn nêu ba nhân vật nhưng câu hỏi chỉ nhắc đến Steve Jobs, tạo cảm giác chưa thật logic.
Nhiều ý kiến cũng cho rằng, HS vùng sâu, vùng xa có thể gặp khó khăn vì không biết Steve Jobs. Băn khoăn này không phải là không có cơ sở. Tuy nhiên, ngay trong đề thi đã có thông tin giúp các em hiểu đây là một nhân vật công nghệ có tầm ảnh hưởng lớn. Và thông tin đó đủ để HS triển khai đoạn văn. Các em chỉ cần tập trung bàn luận về việc tạo ra những nhà đổi mới sáng tạo, doanh nhân công nghệ lớn người Việt Nam, thậm chí không cần nhắc đến Steve Jobs. Điều cần nhấn mạnh, đây chỉ là yêu cầu viết đoạn văn khoảng 200 chữ. Khi chấm, giám khảo chủ yếu đánh giá khả năng lập luận, triển khai ý và diễn đạt, nên sự khác biệt giữa HS biết nhiều hay biết ít về Steve Jobs không quá lớn.
Về cụm từ “những Steve Jobs Việt Nam”, có thể hiểu đây là một ẩn dụ chỉ những nhà đổi mới sáng tạo, doanh nhân công nghệ người Việt Nam có tầm ảnh hưởng toàn cầu. Cách diễn đạt này mang tính biểu tượng, khơi gợi khát vọng cho người học, mặc dù nếu diễn đạt trực tiếp thì sẽ rõ ràng và an toàn hơn. Tóm lại, cách dẫn dắt vấn đề và đặt câu hỏi chưa thật chuẩn xác về mặt thông tin cũng như diễn đạt, đáng ra cần được rà soát kỹ lưỡng hơn đối với một đề thi quốc gia, nhưng nhìn chung đây vẫn là một nỗ lực đổi mới đáng ghi nhận và không phải là “thảm họa” như một số ý kiến gay gắt.
PV: Năm nay, Bộ GD&ĐT lần đầu tiên áp dụng phương pháp chấm rubric trong môn Ngữ văn. Theo ông, phương pháp này có ý nghĩa như thế nào đối với việc đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá?
PGS.TS Bùi Mạnh Hùng: Với đề thi mở như năm nay và những năm tiếp theo, việc đánh giá bài thi theo rubric (hệ thống các tiêu chí) thay cho cách đếm ý cho điểm như trước đây là một giải pháp tiến bộ, tiệm cận với cách đánh giá ở các nước phát triển. Như tôi đã nhiều lần nhấn mạnh, với một bài nghị luận, giám khảo cần chấm điểm bài thi căn cứ vào khả năng thí sinh hiểu đúng vấn đề nghị luận, có hệ thống luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, có dẫn chứng cụ thể, diễn đạt mạch lạc. Chấp nhận nhiều cách triển khai khác nhau nếu hợp lí và thuyết phục. Thí sinh được tính điểm sáng tạo khi có cách nhìn mới mẻ, có lập luận độc đáo, diễn đạt giàu sắc thái cá nhân.
Cách đánh giá như thế giúp giám khảo đánh giá được đúng hơn, khách quan hơn năng lực viết của HS, nhất là năng lực tư duy phản biện và năng lực lập luận thể hiện qua bài viết. Đồng thời, nó cũng sẽ có tác động tích cực đến việc tổ chức dạy học viết trong lớp, vì giáo viên và HS đều phải chú ý đến rèn luyện các kĩ năng xác định luận đề, triển khai các luận điểm, lí lẽ, bằng chứng và cả diễn đạt…, chứ không phải hướng đến việc viết thế nào cho đủ ý, nhiều khi là phải đoán ý của người khác mà viết.
PV: Ở đề Ngữ văn, dung lượng viết đoạn văn giới hạn ở 200 chữ, bài văn 600 chữ. Ông đánh giá như thế nào về quy định này?
PGS.TS Bùi Mạnh Hùng: Tôi cũng đã từng có ý kiến về vấn đề này. Theo tôi, quy định đoạn văn 200 chữ thì phù hợp. Bởi vì nếu không quy định rõ số chữ thì nhiều thí sinh không ước lượng được độ dài đoạn văn, có thể dành quá nhiều thời gian cho phần viết đoạn, ảnh hưởng đến thời gian làm bài văn. Nhưng quy định số chữ đối với bài văn thì khá bất cập. Thực tế cho thấy, trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm nay, đề thi của nhiều tỉnh không còn quy định số chữ của bài văn. Trong bối cảnh đó, đề thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vẫn giữ “khoảng 600 chữ” như trong năm 2025 là không hợp lý.
PV: Theo ông, đâu là những kinh nghiệm cần rút ra từ đề thi năm nay để có thể hoàn thiện tốt hơn nữa đề thi trong các năm tiếp theo, đồng thời tác động tích cực trở lại quá trình dạy và học trong các nhà trường?
PGS.TS Bùi Mạnh Hùng: Tinh thần chung là đề thi cần chọn được ngữ liệu cho phần "đọc hiểu" và ngữ liệu cho phần "viết" có nội dung thú vị, tiêu biểu về thể loại và có cách diễn đạt chuẩn mực; câu hỏi đọc hiểu bám sát yêu cầu của chương trình, chú trọng khai thác đúng đặc điểm thể loại văn bản; câu hỏi phần vận dụng kiến thức tiếng Việt phải đánh giá đúng kĩ năng sử dụng ngôn ngữ của HS, chứ không thuần túy kiểm tra kiến thức; yêu cầu bài viết kích hoạt được hiểu biết, trải nghiệm của thí sinh và khơi gợi được hứng thú của các em. Ngoài ra, cần bổ sung nhóm câu hỏi đánh giá trong các câu hỏi đọc hiểu.
Trong SGK Ngữ văn mới, chúng tôi phân chia các nhóm câu hỏi đọc hiểu theo cách khác, bám sát yêu cầu của chương trình Ngữ văn 2018 và kết quả nghiên cứu về đọc hiểu của thế giới, cụ thể gồm các nhóm câu hỏi sau: Nhận biết; phân tích, suy luận; đánh giá, vận dụng.
Cách phân loại câu hỏi đọc hiểu chỉ gồm nhận biết, thông hiểu, vận dụng dễ khiến nhiều nhóm ra đề quên mất loại câu hỏi yêu cầu HS cho ý kiến nhận xét, đánh giá về nội dung và nhất là hình thức biểu đạt của văn bản đọc. Tôi hi vọng, trong những năm tới câu hỏi đánh giá sẽ xuất hiện nhiều hơn trong các đề thi.
PV: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo và mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, theo ông, việc dạy học Ngữ văn cần thay đổi như thế nào để vẫn giữ được sức hấp dẫn với học sinh?
PGS.TS Bùi Mạnh Hùng: Trong bối cảnh AI và mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, môn Ngữ văn muốn giữ được sức hấp dẫn cần xác định rõ những giá trị riêng mà công nghệ khó có thể thay thế. Nếu trước đây việc dạy học Ngữ văn chủ yếu tập trung vào việc truyền thụ kiến thức ngôn ngữ và văn học cho HS, việc ghi nhớ thông tin được chú trọng, thì nay, với chương trình GDPT 2018, chúng ta đã chuyển mạnh sang mục tiêu phát triển cho HS năng lực đọc, viết, nói, nghe và năng lực tư duy phản biện. Đó là cơ sở tốt để môn Ngữ văn ở Việt Nam có cơ hội thích ứng với bối cảnh mới, trong đó AI là “nhân tố mới” thực sự sẽ làm thay đổi thế giới, tác động sâu sắc đến việc dạy học trong nhà trường; còn mạng xã hội thì đã là một yếu tố quen thuộc mà nhà trường từng bước thích ứng trong nhiều năm qua.
Thay vì xem AI là đối thủ hay cần phải cấm đoán, xa lánh, giáo viên có thể hướng dẫn HS sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ học tập và sáng tạo. Tôi tin rằng, khi gắn nội dung học với những vấn đề gần gũi của đời sống hiện đại, phát huy tốt vai trò phát triển ngôn ngữ, tư duy, tình cảm, thái độ của người học, môn Ngữ văn sẽ tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong việc hình thành những công dân có tư duy độc lập, nhân văn và có trách nhiệm.
Hiện nay và trong tương lai, HS không chỉ cần biết đọc hiểu và viết các loại văn bản đa dạng mà còn phải có khả năng biết sử dụng AI để tìm kiếm ý tưởng và thông tin, biết đánh giá độ tin cậy, nhận diện định kiến của ý tưởng và thông tin được thu nhận từ AI. Đồng thời, môn Ngữ văn cần giúp các em phát triển khả năng đồng cảm, cảm thụ cái đẹp và suy ngẫm về những vấn đề của con người và cuộc sống. Nhờ đó, môn học này có thể giúp chúng ta giữ lại “phần Người” khi công nghệ đang ảnh hưởng đến mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng và mỗi con người ngày càng sâu rộng.
PV: Xin trân trọng cảm ơn PGS về cuộc trò chuyện này!