Đất chăng dây, cây cắm sào

Này bạn mình ơi, quái quỷ thật, khi đến một độ tuổi nào đó, tự dưng con người ta lại nhớ đến chuyện “ngày xửa ngày xưa”. Tất cả như những thước phim lần lượt quay trở về trong trí nhớ. Dấu hiệu của tuổi già đấy chăng? Tôi nhớ lúc nhỏ, còn ở Đà Nẵng, thỉnh thoảng nghe mọi người nói đến câu: “Sào dài chống suối, sào ngắn chống khe”. Có phải đó là lời dặn dò về kinh nghiệm lúc băng rừng lội suối? Khoan vội trả lời, trước hết ta thử tìm hiểu từ sào xem sao?

Ở vùng sông nước, người ta thường lấy một đoạn tre róc sạch hết mắt, dùng để chống ghe thuyền từ chỗ cạn ra đến mực nước có thể di chuyển dễ dàng; hoặc cũng dùng để đẩy ghe thuyền lướt tới; tùy địa hình địa vật, người ta còn sử dụng như cái chèo. Cây sào ấy dài ngắn là tùy nhưng người ta thường chọn loại tre đực già, đặc ruột thì nó mới chịu được lực đẩy lớn mà không bị cong/ gẫy, dù mưa nắng vẫn chắc bền và dẻo dai.

ong20song1.jpg -0
Ảnh: ST.

Sông sâu sào vắn khó dò

Muốn qua thăm bậu mà đò không đưa

Tục ngữ có câu: “Đò nào sào nấy”, tất nhiên rồi, nhưng hiểu theo nghĩa bóng là vợ thế nào, chồng thế ấy cũng như “Nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo”, “Nồi nào vung nấy”… Với từ con đò, ngày trước có câu cửa miệng phổ biến: “Gọi như gọi đò”, tức là người này gọi nhiều lần, gọi miết, gọi mãi, gọi khản giọng nhưng người kia vẫn không nghe/ không làm theo có thể cố ý hoặc vô tình. Chẳng hạn, trời đã sáng nhưng các con không chịu thức đi học, vẫn ngủ nướng, bà mẹ gọi mãi nhưng chúng cứ nằm ì ra đó, bực mình, bà tắc lưỡi: “Gọi như gọi đò”. Có lẽ tiếng gọi đò vang vọng bền nhất trong thơ ca Việt Nam vẫn là:

Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã,

Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly.

Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả,

Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi.

Ông lái đò của nhà thơ Yến Lan có nghe chăng? Nhìn kia, lạ chưa, nhìn kìa:

Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách,

Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng.

Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách,

Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng.

Ngành/ ngành trăng là một từ mới sáng tạo, nếu trước đó chỉ mới nghe dến vầng trăng/ con trăng/ bón trăng... Còn nhớ hồi non tơ mới lớn, có đọc một đoạn văn nhưng rồi vẫn còn nhớ mãi. Chỉ đôi dòng nhưng có thể mở ra trong trí óc non nớt một cảnh chiều tà mênh mông sông nước quạnh quẽ, chỉ có thể là buổi chiều cuối năm quạnh quẽ đấy chăng? “Bỗng, giữa khoảng triền miên rộng rãi, ngân đưa một điệu hát lơ lửng bay trên dòng nước, một điệu hát đò đưa, trầm trầm, lặng lẽ:

Muốn sang nhưng ngại vắng thuyền,

Muốn về bên ấy nhưng duyên lỡ rồi!

Nhịp hát gần lại và xa đi theo chiếc thuyền nhỏ, cô độc, ảo não, trong sự tỏ bày kín đáo của một tấm lòng thương nhớ mênh mông. Ở trên bờ sông bên này, người khách đã đứng dậy, tay nắm chuôi dao, mắt nhìn cái vệt lửa của chiếc thuyền đặt mờ trên mặt nước. Thuyền hình như lại gần, vì sóng vỗ vào mạn đò mỗi lúc một mạnh. Và sau khi nhận đúng là một chiếc đò chở khách, người lữ hành của đất nước Trung Quốc hò lên:

- Tồ ui! (Đò ơi!)

Sóng nước trả lời lại cái giọng kêu quái gở bằng một bóng vang lạnh lẽo”.

Văn của Hồ Dzếnh. Ông không làm văn, chỉ trải lòng qua từng con chữ. Bùi ngùi. Xao xuyến. Và, có sức ám ảnh. À, nghe đâu mối tình đầu của thi hào Nguyễn Du cũng đã bắt đầu từ hoàn cảnh gọi đò. Rằng, thời hoa niên thơ mộng, ông được thân sinh cho ra Hà Nội theo học với ông đồ họ Lê. Trường bên Gia Lâm, bên kia sông Nhị, hằng ngày ông phải đi đò sang. Ngày nọ, khi đến bến, đò đã đi mất hút, gọi mãi không được, đành phải ngồi chờ, lúc ấy hình ảnh cô lái đò đoan trang thùy mị, đáng yêu lại hiện về trong trí nhớ, ông bèn viết mấy dòng lục bát:

Ai ơi chèo chống tôi sang

Kẻo trời trưa trật lỡ làng tôi ra

Còn nhiều qua lại, lại qua

Giúp nhau cho nữa để mà…

Nguyễn Du bỏ lửng là nhằm thăm dò ý tứ của cô lái đò thế nào. Lúc cô quay đò về, ông nhờ người bạn học là Lê Tiếp chuyển giúp, nhưng cô không dám nhận. Nài nỉ mãi, cuối cùng cô nhận nhưng phải thêm hai từ “quen nhau”. Tình cảm giữa hai người ngày càng thắm thiết hơn. Từ “quen” dần dà đã thay bằng từ “thương”, vì thế ông mới có cảm hứng rạo rực:

Quen nhau nay đã nên thương

Cùng nhau một mối tơ vương mối tình

Cảnh xinh xinh, người xinh xinh

Trên: trời, dưới: nước, giữa: mình với ta

Nhưng rồi, kết thúc chuyện tình này cũng tựa như biết bao chuyện tình bẽ bàng khác. Vâng, đúng là thế, bởi từ phía gia đình Nguyễn Du khi biết chuyện này đã cấm tiệt, “ngăn sông cấm chợ” bằng cách chuyển ông sang học ở Thái Bình. Cô lái đò đau khổ. Nguyễn Du cũng đau khổ. Mười năm sau, quay về chốn cũ, ông ngậm ngùi:

Trăm năm đã lỗi hẹn hẹn hò

Cây đa bến cũ, con đò khác đưa

Và, bấy giờ ông còn thổ lộ cảm xúc dạt dào:

Yêu nhau những muốn gần nhau

Bể sâu muôn trượng, tình sâu gấp mười

Vì đâu xa cách đôi nơi

Bến nay còn đó, nào người năm xưa?

Được biết, cô lái đò tên Đỗ Thị Nhật. Mà, chuyện tình này, có thật hay chỉ giai thoại? Chỉ biết rằng, trên tạp chí Nghiên cứu văn học (số tháng 6/1960) nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Bính đã kể lại với những thông tin trên và cho biết, sau khi Nguyễn Du mất, triều đình nhà Nguyễn đã cho thu thập di cảo của thi hào và lưu giữ: “Cụ Nguyễn Đình Ngân ở Huế đã lâu nên có dịp được xem tập di cảo ấy và theo cụ thì câu chuyện tình kể trên kia là tự tay Nguyễn Du viết ở trong một tập di cảo, dưới nhan đề “Mối hận tình của tôi”. Tiếc rằng sau ngày kháng chiến tập di cảo đó đã thất lạc”, ông Bính cho biết. Tin hay không tùy mỗi người, riêng tôi tin có thật, thông tin này không những không hại gì cho sự nghiệp Nguyễn Du mà còn cho thấy một nét “đời thường” của danh nhân đã viết nên kiệt tác Truyện Kiều.

Ghe anh vững lái, vững chèo

Đủ buồm, đủ cột, đủ neo, đủ sào

Gặp cơn sóng gió ba đào

Anh ra tay lèo lái, em đứng mũi chịu sào nó sẽ vượt qua

“Đứng mũi chịu sào” là ngụ ý chỉ ai đó giữ vai trò quan trọng và chịu trách nhiệm trong tình huống gian nan, khó khăn nhất. Khi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý viết ca từ: “Thương con đò cắm con sào đứng đợi”, ta hãy lưu ý đến từ cắm vì còn là vai trò của con sào nữa. “Sào sâu khó nhổ”, chỉ vì cắm sâu quá. Cắm sào là dùng để neo giữ ghe thuyền. Có những áng văn chương dù không xuất hiện từ sào/ cắm sào nhưng ta vẫn nhận ra, thí dụ:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Từ “ai” cho biết lúc ấy trên thuyền dù không có ai, Hàn Mặc Tử nhìn thấy là do nó đã được neo lại bằng cách sợi dây thừng nối từ mũi thuyền đến con sào cắm sát bờ. Với tàu bè hiện đại đóng bằng sắt thép, khi cập bến không thể buộc lại bằng sào, mà phải bằng cọc sắt đã đóng vững chắc cố định trên bờ, thậm chí còn thể buộc lại bằng dây xích sắt nữa - gọi lòi tói. Nhưng khi bà Hồ Xuân Hương viết:

Ai về nhắn bảo phường lòi tói

Muốn sống đem vôi quét trả đền

Lại hiểu “lòi tói” là chỉ những kẻ dốt nát, chữ nghĩa ất ơ, chữ tác đánh chữ tộ, văn chương câu cú cộc lốc như bầu dục chấm mắm cáy. “Lòi” là dây (như lòi tiền), “tói” là xâu lại/ nối lại (như  Truyện Kiều có câu: “Áo xiêm buộc tói lấy nhau”).  “Từ điển Việt - Bồ - La” của A. de Rhodes (1651) giải thích lòi tói là “xiềng xích sắt”. Hồ Xuân Hương khi đánh giá thơ phú của phường lòi tói: “Cũng đòi học nói nói không nên”, há chẳng phải từ âm ói/ lòi tói là bà đang ngao ngán xỉa xói đến độ muốn “ói” đấy chăng?

Có thể nói cắm sào và chống sào là hai động tác gắn liền nhau trong quá trình trước và sau liên quan đến di chuyển của ghe đò. Vậy, ta hãy quan sát một “hoạt cảnh” trong hò đối đáp - nữ hò ỡm ờ:

Xung quanh cỏ mọc xanh rì

Chính giữa nước chảy, anh đi ngõ nào?

Nam trả lời ba trợn:

Hai tay bụm lấy cù lao

Chính giữa nước chảy, chống sào anh qua

Ủa? Có liên quan gì đến câu chuyện đang bàn? Thế mới biết người Việt mình chơi chữ tài tình, tếu táo quá cỡ thợ mộc. Thanh lịch bà trang nhã, ai hiểu sao thì hiểu. Đã hiểu rồi à? Ắt phải… cười.

Khi đọc “Tắt đèn”, ta biết sau bữa ăn trưa, “Bà nghị cầm đĩa giò kho ăn dở, trút vào trong niêu, sai thằng bếp treo lên lao màn và dặn: “Bà đã đếm kỹ từng miếng rồi đấy. Còn mười bốn miếng tất cả. Hễ mất miếng nào thì chết với bà!”. Giàu sụ mà đối với kẻ ăn người ở thế này, chỉ có thể gọi là keo kiệt, bủn xỉn. Lao màn là cái gì? Là… cây lao nhưng “nghĩa bóng: cái sào” - theo “Việt Nam tự điển” (1931). Treo cái niêu lên sào dựng đứng, bởi bà nghị thừa biết câu tục ngữ: “Chó treo mèo đậy”. Còn đây là lúc đặt cây sào nằm ngang:

Giặt áo thì phơi con sào

Chớ phơi hàng rào rách áo chồng tao

Ấy là lời của cô Tấm khi hóa thân vào chim vàng anh bảo với Cám. Lẽ ra, với sào trong trường hợp này phải gọi bằng cái sào/ cây sào, chứ sao lại gọi bằng con? Tương tự khi về làng Phú Chiêm tham gia Lễ hội mì Quảng lần thứ nhất (5/8/2022), các mẹ, các chị lúc làm mì Quảng không gọi sợi mì mà dùng từ con/ con mì. Họ nói thế này: “Khi tráng mì xong, nhớ thoa/ xoa lên bề mặt một lớp mỏng dầu phọng/ dầu phụng, nhờ vậy, khi xén/ cắt ra, bỏ vào tô, lùa vào miệng thì mới cảm thấy từng con mì thơm tho quyến rũ biết chừng mô”. Đã thế, ta từng nghe nói đến con ong, con kiến nhưng rồi vẫn có cách diễn đạt khác như trong Truyện Kiều:

Kẻo khi sấm sét bất kỳ

Con ong cái kiến kêu gì được oan

Xét ra trong tiếng Việt những từ như cây, cái, con đứng trước loại từ nào đó, có thể hoán đổi cho nhau một cách linh hoạt, chứ không “đóng khung” cố định theo nguyên tắc nhất định.

Với từ sào/ con sào, có thể bất ngờ với nhiều người khi bắt gặp trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân: “Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy”.Ta hiểu là một cách nói chỉ về thời gian, chỉ ước chừng một cách phiên phiến chứ không chính xác cụ thể. Chẳng hạn, “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) cho biết: “Trời mọc ba sào: Chừng nửa buổi mai”.

Sào còn là từ đồng âm dùng chỉ đơn vị để đo diện tích ruộng đất. “Sào: Đồ đo ruộng có 15 thước mộc”; “Sào mẫu: Tiếng gọi chung số đo đất ruộng. Mười sào làm một mẫu”; “Sào đất/ sào ruộng: Phần thứ 10 trong một mẫu đất, mẫu ruộng” - ông Huình Tịnh Paulus Của giải thích. Về sở hữu đất đai của từng cá thể, tục ngữ có câu phản ánh sự quy định: “Đất chăng dây, cây cắm sào”. Chăng có nghĩa là giăng. Câu này, nhà ngôn ngữ Nguyễn Đức Dương giải thích: “(Đo) đất thì nên chăng dây; (đo) cây (chưa đẵn hạ) thì nên dựng sào, vì đó là hai cách làm đỡ tốn thì giờ và công sức nhất” (Từ điển tục ngữ Việt - NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh - 2010, tr.314).

Ngày xưa ở trong Nam gọi “chạy dây: Kéo sợi dây mà chạy tới, cũng là cách đo ruộng đất”, “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) cho biết. Nói cách khác, “chăng dây” là đo cụ thể diện tích đất mà nhà nước đã thừa nhận/ chứng nhận trên giấy tờ; “cắm sào” không phải “(đo) cây (chưa đẵn hạ)” mà dựng sào thẳng đứng từ ranh giới đất của mình lấy làm chuẩn, nếu cây trồng chìa nhánh lấn sang/ chìa sang phần đất của người khác thì không thuộc về mình.

Trở lại với câu: “Sào dài chống suối, sào ngắn chống khe”, ta có thể thích sào theo nghĩa nào vừa nêu trên? Không. Không theo nghĩa nào cả. Đơn giản như đang giỡn, rằng thì là ở đây chơi chữ bằng cách nói lái: “chống suối” là “chuối sống”, “chống khe” là “ché không”. Chuối còn sống, còn xanh, sống sít; cái ché là cái bình bằng sành, to bụng, miệng túm có nắp đậy, dùng đựng rượu lúc cưới hỏi, cũng gọi là chóe. 

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?